- Quyền phủ quyết đạo luật do Nghị viện đã thông qua. Sau khi một đạo luật do Nghị viện thông qua, Thủ tướng Thái Lan sẽ trình đạo luật đó lên Quốc vương để ký công bô. Tuy nhiên, Quốc vương có quyền không ký công bô và gửi trả lại hoặc không gửi trả lại đạo luật đó cho Nghị viện trong vòng 90 ngày. Khi đó, mặc nhiên được hiểu là đạo luật đã bị Quốc vương phủ quyết.
Nghị viện có quyền xem xét lại đạo luật đó và nếu tiếp tục thông qua đạo luật đó với tỷ lệ tối thiểu 2/3 tổng số đại biểu Nghị viện thì Quốc vương buộc phải ký công bố hoặc nếu không thì đạo luật cũng coi như đã được công bố. - Quyền giải tán Hạ nghị viện - Điều 108 Hiến pháp không quy định Quốc vương phải tuyên bố lý do giải tán Hạ nghị viện mà chỉ quy định đây là đặc quyền cua Quốc vương. Trong trường hợp Quốc vương giải tán Hạ nghị viện thì mọi đạo luật đã bị Quốc vương phủ quyết đều bị bãi bỏ. Có thể nói là ba quyển trên đây đem lại cho Quốc vương Thái Lan uy thế rất lớn trong mối quan hệ với cơ quan lập pháp của Thái Lan.
Với ba quyền này, có thể nói, Quốc vương Thái Lan có thể kiểm soát được cơ quan lập pháp. Nếu không đồng ý với một đạo luật nào đó của cơ quan lập pháp, trước tiên, Quốc vương có thể phủ quyết đạo luật đó. Việc phủ quyết sẽ buộc cơ quan lập pháp phải xem xét lại đạo luật mà mình vừa thông qua. Nếu cơ quan lập pháp, với số phiếu tập trung hơn, vẫn nhất quyết thông qua đạo luật, qua đó, đẩy thêm một bước mâu thuẫn với Quốc vương thì Quốc vương có thể giải tán Hạ nghị viện, 204 và do đó, làm cho đạo luật bị vô hiệu hóa, cho dù đạo luật đó đã được thông qua.
Quyền giải tán Hạ nghị viện có thể được coi là vũ khí tối thượng của Quốc vương trong quan hệ với cơ quan lập pháp của Thái Lan. Đây có thể nói là một đặc điểm độc đáo của chính thể quân chủ lập hiến Thái Lan. Cũng có thể coi đây là một biện pháp hiến định mà các nhà lập hiến của Thái Lan đã đặt ra nhằm đối phó với trường hợp bất đồng giữa các đảng chính trị dân tới bế tắc chính trị ở vương quốc này. Khi đó, Quốc vương Thái Lan với những quyền năng của mình có thể đứng lên để tập hợp sự đoàn kết dân tộc, giải quyết bế tắc chính trị có thể xảy ra.
- Quyền ký kết hiệp ước hòa bình, hiệp ước đình chiến và các hiệp ước khác với các nước khác hoặc với các tổ chức quốc tế. Các hiệp ước làm thay đổi lãnh thổ Thái Lan hoặc có tác động lớn tới an ninh, xã hội, kinh tế quốc gia, các cam kết nội dung về thương mại, đầu tư hay ngân sách của đất nước đều phải được Nghị viện phê chuẩn'. - Quyền ban lệnh ân xá?. - Quyền rút lại tước vị và huân chương3.
Bên cạnh đó, Quốc vương Thái Lan, với tư cách nguyên thủ quốc gia cũng có những nhiệm vụ, quyền hạn mang tính lễ nghi cao, như: - Quyền ấn định ngày bầu cử Hạ nghị viện, Thượng nghị viện; 1, 2, 3, 4. Điều 190; Điều 191; Điều 192; các điều 107, 118, 124, 128, 127, 129,158,183, 184, 189, 193, 195, 200, 205, 220, 224,229, 242, 246, 252, 254, 255, 273 Hiến pháp Thái Lan hiện hành. 205 - Bổ nhiệm Chủ tịch Hạ nghị viện, Thượng nghị viện theo nghị quyết của hai viện. - Triệu tập, khai mạc, bế mạc kỳ họp Quốc hội.
- Quyền ký sắc lệnh kéo dài kỳ họp Nghị viện hoặc triệu tập họp bất thường theo đề nghị của nhóm nghị sĩ không ít hơn 1/3 tổng số thành viên đương nhiệm của cả hai viện. - Quyền chỉ định lãnh đạo phe đối lập trong Hạ nghị viện. Lãnh đạo phe đối lập là người đứng đầu của đảng chính trị có nhiều ghế nhất trong số các đẳng chính trị không có ghế Bộ trưởng, với điều kiện là dang đó có it nhất 1/5 tổng số ghế trong Hạ nghị viện. - Quyền bổ nhiệm Thủ tướng Chính phủ.
- Quốc vương có đặc quyền cách chức một Bộ trưởng theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ. - Quyền ban bố sắc lệnh khẩn cấp có hiệu lực như một đạo luật nhằm mục đích đuy trì an ninh quốc gia, an toàn công cộng, an ninh kinh tế quốc gia, ngăn chặn bạo động phá phách. Tuy nhiên, việc ban bố sắc lệnh này cũng chỉ có thể được thực hiện theo dé nghị của cơ quan hành pháp. _ - Quyền tuyên bố chiến tranh với sự phê chuẩn của Nghị viện hoặc của Thượng nghị viện nếu Nghị viện đang hết nhiệm kỳ hoặc giải thể.
- Quyền phong và giáng cấp hàm trong quân đội cũng như chức Quốc vụ khanh thường trực, tổng cục trưởng và chức vụ tương đương trong khối dân sự. Các lệnh phong, giáng cấp như vậy phải có sự tiếp ký của một Bộ trưởng của Chính phủ. 206 - Quyền bổ nhiệm và cách chức Chánh án và các Thẩm phán của các Tòa án. Việc bổ nhiệm được tiến hành trên cơ sở đề cử của một cơ quan hoặc một hội đồng nhất định, ví dụ việc bổ nhiệm Chánh án và Thẩm phán Tòa án Hiến pháp được thực hiện theo đề cử của Thượng nghị viện, việc bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án tư pháp và Tòa án hành chính được thực hiện theo đề cử của Ủy ban tư pháp của các Tòa án này.
- Quyền bổ nhiệm thành viên của các thiết chế hiến pháp độc lập như Ủy ban bầu cử, Thanh tra Nghị viện, Ủy ban Chống tham nhũng quốc gia, Ủy ban Kiểm toán nhà nước, Tổng Công tố, Ủy ban Nhân quyển quốc gia theo sự cô vấn của Thượng nghị viện. - Triệu tập họp bất thường cua Nghị viện theo dé nghị của Chủ tịch Nghị viện. Sở di, Hiến pháp Thái Lan trao cho Quốc vương những nhiệm vụ quyển hạn khá lớn và thực chất như dé cập trên đây là vì điều kiện hoàn cảnh lịch sử của Thái Lan trong thời gian vừa qua đầy biến động. Những cuộc đảo chính quân sự xảy ra khá thường xuyên làm cho đời sông chính trị rối loạn.
Phong trào ly khai cũng đang nổi lên ở một địa phương ở phía Nam Thái Lan. Vấn đề đoàn kết, quy tụ đân tộc, vì vậy, trở thành một vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt đối với người Thái. Quốc vương chính là người luôn được người dân Thái Lan tôn kính, tin tưởng và vì vậy đã được Hiến pháp trao cho nhiều quyền khá mạnh mẽ để Quốc vương có đủ năng lực về mặt pháp lý để bảo vệ cho nền độc lập của đất nước, tập hợp được sự đoàn kết của nhân dân Thái Lan. 207 Bộ máy giúp việc cho Quốc vương Thái Lan thực hiện những nhiệm vụ quyển hạn hiến định cua mình cũng được tổ chức khác biệt so với Campuchia và có phần nào đó giống với Hiến pháp Brunây.
Giúp việc và đóng vai trò cố vấn cho Quốc vương Thái Lan là Hội đồng Cơ mật, bao gồm 1 Chủ tịch và tối đa 18 thành viên do Quốc vương chỉ định và cách chức. Thành viên của Hội đồng Cơ mật không được đồng thời là nghị sĩ hay nắm giữ bất kỳ vị trí nào trong bộ máy nhà nước hoặc thậm chí không được là viên chức doanh nghiệp quốc doanh cũng như không được là thành viên của bất kỳ đảng phái chính trị nào. Nói tóm lại, Hội đồng Cơ mật là một cơ quan hoàn toàn độc lập, có nhiệm vụ tư vấn cho Quốc vương trong việc ra mọi quyết định của Quốc vương trên tinh than hoàn toàn khách quan!. b) Cơ quan lập pháp của Campuchia va Thai Lan: Cơ quan lập pháp của Vương quốc Campuchia được tổ chức theo mô hình nghị viện lưỡng viện, bao gồm Quốc hội (National Assembly), tức Hạ nghị viện và Thượng nghị viên (Senate).
Hai cơ quan này được thành lập một cách riêng rẽ và thường là hoạt động độc lập với nhau để thực hiện chức năng lập pháp. Cũng có trường hợp hai viện này họp va ra quyết định chung về những vấn dé quan trọng của đất nước Campuchia. Khi hai nghị viện họp chung như vậy được gọi là Nghị viện?. Rất tiếc các trường hợp cụ thể mà Nghị viện họp và ra quyết định như 1.
Các điều 13, 14 Hiến pháp Thái Lan hiện hành. Điều 116 Hiến pháp Campuchia hiện hành. 208 vậy lại được quy định trong luật chứ không phải trong Hiến pháp. Theo quy định của Hiến pháp Campuchia, Hạ nghị viện của Campuchia gồm có ít nhất 120 thành viên được bầu thông qua cuộc bầu cứ tự do, phổ thông, bình dang, trực tiếp và kín.
Các Hạ nghị sĩ được bầu theo các đơn vị bầu cử, song sau khi được bầu thì họ phải đại diện cho tất cả người dân Khmer chứ không chi cử tri của của đơn vị bầu cử. Hạ nghị sĩ có thế được tái bầu. Tiêu chuẩn dé được bầu làm hạ nghị sĩ bao gồm: (1) Có quyền di bầu, ít nhất 25 tuổi và có quốc tịch Khmer khi sinh ra. Nhiệm kỳ của hạ nghị viện là 5 năm và có thể được kéo đài 1 năm một lần mỗi khi có tình hình đặc biệt.
Các Hạ nghị sĩ có thể được tái bầu. Hạ nghị sĩ không được phép kiêm nhiệm bất kỳ chức vụ nào trong các cơ quan công quyền trừ trường hợp kiêm nhiệm chức vụ trong Chính phủ. Ngay cả khi đó, Hạ nghị sĩ đó cũng không được đồng thời là thành viên của bất kỳ cơ quan nào của Hạ nghị viện. Hạ nghị sĩ Campuchia được một số quyền miễn trừ, bao gồm đặc quyền không bị truy tố, bắt giam hoặc tạm giữ vì những ý kiến của họ trong quá trình thực thi nhiệm vụ đại biểu, trừ trường hợp phạm tội quả tang.
Mọi trường hợp khởi tố, bat giam hoặc tạm giữ Hạ nghị sĩ đều phải được sự cho phép của Hạ nghị viện hoặc Ủy ban thường vụ Hạ nghị viện. Nếu là bắt quả tang thì vụ việc phải được báo lên Hạ nghị viện hoặc Ủy ban thường vụ Hạ nghị viện để quyết định. Quyết định của Ủy ban thường vụ Hạ nghị viện cũng phải trình lên kỳ họp gần nhất của Hạ nghị viện để thông qua. Bất luận trong bất cứ trường 209 hợp nào, nếu 3⁄4 tổng số Hạ nghị sĩ thông qua thì việc bắt giam hoặc truy tố Hạ nghị sĩ đều phải chấm dứt.
Hạ nghị sĩ được hướng lương từ ngân sách nhà nước để làm công việc của người đại diện!. Hạ nghị viện Campuchia là cỗ máy chính thực hiện hoạt động lập pháp.