Mở đầu cho những hoạt động lập pháp có ý nghĩa đối với việc bảo vệ môi trường là việc tạo ra một cơ sở pháp lý quan trọng tại Điều 13 - Hiến pháp 1980: “ Các cơ quan Nhà nước, xí nghiệp, hợp tác xã, don vi vũ trang nhân dân và công dân đều có nghĩa vụ thực hiện chính sách bảo vệ cải tạo và tái sinh các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và cải tạo môi trường sống”. Bước dau nhận thức được chủ trương mang tính Hiến định này, các nhà làm luật khi xây dựng BLHS năm 1985 đã đưa vào đó một số điều luật quy định về các tội phạm liên quan đến môi trường tại Chương VII “Các tội phạm về kinh tế” và Chương VIII “Các tội xâm phạm an toàn, trật tự công cộng và trật tự quan ly hành chính”. Cụ thé đó là các tội danh quy định tại Điều 180 “Tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai”, Điều 181 “Tội vi phạm các quy định về quản ly và bảo vệ rừng”, Điều 195 “Tội vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường gây hậu quả nghiêm trọng” và Điều 216 “Tội vi phạm các quy định về bảo vệ và sử dung di tích lịch sử, văn hoá, danh lam. thắng cảnh gây hậu quả nghiêm trọng”.
Việc quy định một số tội phạm có liên quan đến môi trường nêu trên đã cho thấy một bước phát triển mới trong nhận thức cũng như trong hành động của Nhà nước Việt Nam đối với vấn đề bảo vệ môi trường bảng pháp luật hình sự. Đây cũng là một động thái thể hiện sự hài hòa hóa các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường của Việt Nam với xu thế sử dụng pháp luật hình sự để phòng, chống những hành vi gây thiệt hại cho môi trường của nhiều nước trên thế giới. Trong những năm gần đây, sự phát triển của nên kinh tế thị trường với những biến đổi sâu sắc trong đời sống xã hội của đất nước đã dẫn đến những diễn biến 17 phức tạp của các hoạt động liên quan đến môi trường cũng như của các vi phạm pháp luật về môi trường. Một mặt, các nhà sản xuất không chịu áp dụng các biện pháp bảo vệ môi trường.
Mặt khác, người dân vì lợi ích trước mat đã bất chấp pháp luật bảo vệ môi trường, khai thác một cách tàn nhẫn các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Đứng trước những chuyển biến phức tạp của tình hình môi trường Việt Nam và thế giới, việc xây dựng và tiếp tục hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp luật trong đó có pháp luật hình sự về bảo vệ môi trường là hết sức cần thiết. Yêu cầu này còn xuất phát từ chính những nhược điểm, những bất cập của quy định về tội phạm về môi trường trong BLHS 1985. Cụ thể là: Thứ nhất, vì chưa xác định chính xác khách thể bị các tội phạm đó xâm hại, cho nên tuy chúng cùng là các hành vi gây thiệt hại cho môi trường nhưng lại được quy định trong các chương khác nhau mà tên gọi của các chương đó lại không hề gắn với vấn đề môi trường.
Điều này có thể dẫn đến sự hiểu nhầm rằng những hành vi đó xâm hại đến những khách thể được luật hình sự bảo vệ hoàn toàn khác nhau. Thứ hai, do ở thời điểm xây dựng BLHS năm 1985, nhà làm luật chưa có sự phân định rạch ròi khía cạnh kinh tế và khía cạnh môi trường của các hành vi phạm tội cho nên còn quy định ghép các hành vi có tính chất khác nhau đó trong cùng một điều luật. Hơn nữa, dường như nhà làm luật quan tâm đến tính chất kinh tế của các hành vi đó là chính nên việc mô tả hành vị phạm tội chủ yếu dựa trên tính gây thiệt hại cho chế độ kinh tế của chúng. Chính vì vậy, các loại hành vi gây ô nhiễm đất, huỷ hoại rừng, huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản.còn chưa được quy định một cách đầy đủ trong BLHS 1985.
Thứ ba, các điều luật quy định những hành vi phạm tội liên quan đến môi trường còn quá chung chung, cả về tội danh lẫn sự mô tả các dấu hiệu của cấu thành tội pham(CTTP). Hơn nữa, phạm vi của điều luật vừa rộng lại vừa không rõ ràng. Tội vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường gây hậu quả nghiêm trọng theo Điều 195 BLHS năm 1985 chính là một ví dụ điển hình cho những nhược điểm nêu trên khi mà nhà làm luật chỉ nêu chung chung: “Người nào vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường gây hậu quả nghiêm trong,. Điều đó đã dẫn đến những khó khăn vướng mắc trong việc nhận thức cũng như áp dung pháp luật trên thực tế.
THU WIEN | TRƯỜNG ĐẠI Rt Tha HA NOI | PHÒNG Doc _ fh + _—_ 18 Thứ tư, vào thời điểm được xây dung, BLHS năm 1985 chưa tiên liệu hết sự da dạng cũng như tính chất nguy hiểm cho xã hội của một số hành vi xâm hại môi trường. Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, với tốc độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nhanh như hiện nay, sự suy thoái nhanh của các thành tố môi trường cùng với các tác hại của nó đối với đời sống xã hội đang đặt ra một yêu cầu bức xúc cho việc bảo vệ môi trường sinh thái. Điều đó dẫn đến đòi hỏi cần phải hình sự hoá một số hành vi vi phạm pháp luật về môi trường mà trước đó nhận thức xã hội chưa tới và BLHS 1985 cũng chưa thực sự ghi nhận để kịp thời khuyến cáo toàn xã hội về tính chất nguy hiểm của những hành vi đó, giúp cho mọi người tự ngăn ngừa. đồng thời có cơ sở pháp lý để xử lý nghiêm minh những người vi phạm.
Những nhược điểm nêu trên của BLHS 1985 đã dẫn đến nhiều hạn chế trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự để bảo vệ môi trường. Trong khi số lượng các vi phạm pháp luật môi trường ngày càng tăng, việc xét xử các tội phạm về môi trường lại quá khiêm tốn. Bang | sau đây sé là một minh họa cho tình trạng nêu trên. Bảng 1: Số vụ án và số bi cáo bi dua ra xét xử về một số tội phạm liên quan đến môi trường từ năm 1992 đến năm 1998 Điều của BLHS Số vụ án Số bị cáo 179 188 308 181 1015 2079 - 195 l 3 216 6 10 Nguồn: Số liệu từ phòng tổng hop TANDTC Đến thời điểm này, nhận thức của Việt Nam về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường trở nên sâu sắc hơn.
Hiến pháp 1992 đã quy định : “Cø quan Nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, mọi cá nhân phải thực hiện các quy định của Nhà nước về sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường. Nghiêm cấm mọi hành động làm suy kiệt tài nguyên và húy hoại môi trường”. Bên cạnh đó, ngày 25/6/1998, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 36/CT- TW về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trong đó nhấn mạnh: “ Bảo vệ môi trường là vấn đề sống còn của đất nước, của nhân loại”, đồng thời đưa ra một số giải pháp cơ bản trong đó có giải 19 pháp hoàn chỉnh hệ thống van bản pháp luật về bảo vệ môi trường. Ngay trong Tờ trình Quốc hội về dự án BLHS (sửa đổi) của Chính phủ số 1218/CP-PC ngày 19/10/1998, một trong những quan điểm được quán triệt trong quá trình soạn thảo Bộ luật là:“bảo vệ môi trường sinh thái”.
Những quan điểm chi đạo nêu trên của Đảng và Nhà nước ta đã trở thành định hướng quan trọng cho việc xây dựng quy định về các tội phạm về môi trường trong BLHS 1999. Nhà nước ta đã khẳng định một trong những nhiệm vụ của BLHS là “dam bảo cho mọi người được sống trong một môi trường xã hội và sinh thai an toàn, lành mạnh, mang tính nhân văn cao.” Đặc biệt, trong BLHS 1999, các hành vi vi phạm những quy định về bảo vệ môi trường gây hậu quả nghiêm trọng đã được cá thể hoá bằng 10 tội danh cụ thể và cấu tạo thành han một chương mới - Chương XVII “Các tội phạm về môi trường” ( từ Điều 182 đến Điều 191). Việc bổ sung Chương XVII “Các tội phạm về môi trường” vào BLHS 1999 là nhằm tạo ra cơ sở pháp lý đầy đủ, cụ thể cho việc xử lý các hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật về môi trường; đáp ứng được một cách kịp thời và có hiệu quả yêu cầu đấu tranh phòng, chống các hành vi xâm hại môi trường. Để đạt được mục đích này, quy định về các tội phạm về môi trường đã được xây dựng trên cơ sở khoa học môi trường, khoa học pháp lý; tinh thần của các cam kết quốc tế về bảo vệ môi trường, kế thừa các quy định có liên quan đến bảo vệ môi trường trong BLHS 1985, xem xét tính nguy hiểm cho xã hội của một số hành vi xâm hại môi trường trong mối quan hệ với yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm; dự kiến tình hình, diễn biến của tội phạm trong thời gian tới; tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm lập pháp hình sự để bảo vệ môi trường của một số nước trên thế giới.
Việc xây dựng Chương XVII “ Các tội phạm về môi trường” đã quán triệt được các yêu cầu cơ bản sau đây: Một là: Phân định rạch ròi tính chất kinh tế và tính chất môi trường của các hành vi phạm tội để từ đó xác định chính xác khách thể bị hành vi phạm tội gây thiệt hại, trên cơ sở này sắp xếp đúng các tội phạm thực sự tác động đến các thành phần của môi trường vào chương này. 20 Hai là: Các hành vi phạm tội phải được cá thể hoá thành các tội danh cụ thể. Quy định về các tội phạm phải rõ ràng, cụ thể, thuận lợi cho việc áp dụng. Ba là: Phải tội phạm hoá được đầy đủ các nhóm hành vi bị cấm bởi Luật bảo vệ môi trường của Việt Nam 1993.
Từ những mục đích, cơ sở và yêu cầu nêu trên, Chương XVII của Bộ luật hình sự năm 1999 với sự tập trung toàn bộ các tội phạm về môi trường đã ra đời. Có thể khái quát những điểm mới trong quy định về các tội phạm về môi trường như sau: Thứ nhất, các quy định đó đã được tập hợp một cách có hệ thống trong một chương hoàn toàn mới với tên gọi của chương phản ánh được khách thể bị nhóm tội xâm hat.