Luận án tiến sĩ luật học mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong lĩnh vực hôn nhân gia đình nghiên cứu so sánh việt nam và hàn quốc

Luận án tiến sĩ luật học phân tích mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong lĩnh vực hôn nhân gia đình nghiên cứu so sánh việt nam, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ luật học

2018

178
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÁC VẤN ĐỀ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. Tình hình nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến đề tài Luận án tại Việt Nam

1.2. Nhận xét về tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài. Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong Luận án, giả thuyết nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

1.3. Kết luận Chương 1

2. CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC TRONG LĨNH VỰC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

2.1. Khái niệm và bản chất mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình

2.2. Biểu hiện của mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình

2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình

2.4. Kết luận Chương 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC TRONG LĨNH VỰC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM VÀ HÀN QUỐC

3.1. Khái quát thực trạng hôn nhân và gia đình ở Việt Nam và Hàn Quốc

3.2. Thực trạng mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong việc điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình ở Việt Nam và Hàn Quốc

3.3. Thực trạng mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong việc thực hiện pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình

3.4. Đánh giá chung về thực trạng mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức ở Việt Nam và Hàn Quốc

3.5. Kết luận Chương 3

4. CHƯƠNG 4: NGUYÊN TẮC VÀ GIẢI PHÁP KẾT HỢP PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC TRONG QUÁ TRÌNH ĐIỀU CHỈNH CÁC MỐI QUAN HỆ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TẠI VIỆT NAM VÀ HÀN QUỐC

4.1. Quan điểm kết hợp pháp luật và đạo đức trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình

4.2. Giải pháp kết hợp pháp luật và đạo đức nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình

4.3. Kết luận Chương 4

DANH MỤC CÁC BÀI VIẾT NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Giới thiệu về mối quan hệ giữa pháp luật hôn nhân và đạo đức gia đình

Mối quan hệ giữa pháp luậtđạo đức trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình là một chủ đề quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh xã hội hiện đại. Pháp luật hôn nhân không chỉ điều chỉnh các quan hệ xã hội mà còn phản ánh các giá trị đạo đức của một quốc gia. Tại Việt Nam và Hàn Quốc, sự tương tác giữa hai yếu tố này thể hiện rõ nét qua các quy định pháp luật và các chuẩn mực đạo đức xã hội. Theo đó, quy định pháp luật không chỉ nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên trong quan hệ hôn nhân mà còn phải phù hợp với các giá trị đạo đức truyền thống. Điều này cho thấy sự cần thiết phải nghiên cứu sâu hơn về mối quan hệ này để có thể điều chỉnh và hoàn thiện các quy định pháp luật một cách hiệu quả.

1.1. Khái niệm và bản chất mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức

Khái niệm về mối quan hệ giữa pháp luậtđạo đức trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình thường được hiểu là sự tương tác giữa các quy định pháp luật và các chuẩn mực đạo đức xã hội. Đạo đức gia đình không chỉ là những giá trị tinh thần mà còn là nền tảng cho việc xây dựng các quy định pháp luật. Sự tương tác này thể hiện qua việc pháp luật có thể điều chỉnh các hành vi xã hội, trong khi đạo đức lại định hình các giá trị mà pháp luật cần bảo vệ. Tại Việt Nam, pháp luật hôn nhân được xây dựng dựa trên các giá trị đạo đức truyền thống, trong khi ở Hàn Quốc, sự phát triển của pháp luật cũng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ các giá trị đạo đức hiện đại.

II. Thực trạng mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức tại Việt Nam và Hàn Quốc

Thực trạng mối quan hệ giữa pháp luậtđạo đức trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình tại Việt Nam và Hàn Quốc cho thấy sự khác biệt rõ rệt. Tại Việt Nam, pháp luật hôn nhân thường phản ánh các giá trị đạo đức truyền thống, trong khi ở Hàn Quốc, sự hiện đại hóa và toàn cầu hóa đã tạo ra những thay đổi trong cách nhìn nhận về đạo đức gia đình. Các quy định pháp luật tại Việt Nam vẫn còn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ các chuẩn mực đạo đức truyền thống, trong khi Hàn Quốc đang dần điều chỉnh pháp luật để phù hợp với các giá trị đạo đức hiện đại. Điều này dẫn đến những khác biệt trong cách thức thực hiện và áp dụng pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình giữa hai quốc gia.

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa pháp luậtđạo đức trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Đầu tiên, văn hóa và lịch sử của mỗi quốc gia đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các giá trị đạo đức. Tại Việt Nam, các giá trị đạo đức truyền thống vẫn giữ vai trò chủ đạo, trong khi Hàn Quốc đang trải qua quá trình hiện đại hóa mạnh mẽ. Thứ hai, sự phát triển kinh tế và xã hội cũng ảnh hưởng đến cách thức mà pháp luậtđạo đức tương tác với nhau. Cuối cùng, sự thay đổi trong nhận thức xã hội về quyền con người và bình đẳng giới cũng là yếu tố quan trọng trong việc điều chỉnh mối quan hệ này.

III. Giải pháp kết hợp pháp luật và đạo đức trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình

Để nâng cao hiệu quả điều chỉnh các mối quan hệ hôn nhân và gia đình, việc kết hợp giữa pháp luậtđạo đức là rất cần thiết. Các giải pháp có thể bao gồm việc xây dựng các quy định pháp luật phù hợp với các giá trị đạo đức xã hội, đồng thời khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong việc thực hiện các quy định này. Tại Việt Nam, cần có những chính sách pháp luật rõ ràng hơn để bảo vệ quyền lợi của các thành viên trong gia đình, trong khi Hàn Quốc có thể học hỏi từ các giá trị đạo đức truyền thống của Việt Nam để làm phong phú thêm hệ thống pháp luật của mình.

3.1. Đề xuất giải pháp cụ thể

Một số giải pháp cụ thể để kết hợp pháp luậtđạo đức trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình bao gồm: Thứ nhất, cần tăng cường giáo dục về đạo đức gia đình trong các trường học và cộng đồng để nâng cao nhận thức về vai trò của đạo đức trong hôn nhân. Thứ hai, các cơ quan nhà nước cần phối hợp chặt chẽ với các tổ chức xã hội để thực hiện các chương trình hỗ trợ gia đình, từ đó tạo ra môi trường thuận lợi cho việc thực hiện các quy định pháp luật. Cuối cùng, cần có các nghiên cứu sâu hơn về mối quan hệ giữa pháp luậtđạo đức để từ đó đưa ra các chính sách pháp luật phù hợp với thực tiễn xã hội.

06/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỎNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÁC VÁN ĐÈ CÓ LIÊN QUAN ĐÉN ĐÈ TÀI LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến đề tài Luận án tại Việt Nam Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến đề tài Luận án có thể nói là rất nhiều và được các tác giả nghiên cứu ở nhiều khía cạnh, góc độ và cấp độ khác nhau. Bởi lẽ, MQH giữa pháp luật và đạo đức là một đề tài rất lớn, phức tạp và nhận được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu khoa học tại Việt Nam. Hơn nữa, MQH HN&GD là MQH nên tang, có vị trí, vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của xã hội, do đó cũng nhận được nhiều sự quan tâm nghiên cứu.

Các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến đề tài Luận án ở Việt Nam có thé được phân ra làm ba nhóm: một là, các công trình nghiên cứu về đạo đức trong lĩnh vực HN&GĐ; hai là, các công trình nghiên cứu về pháp luật trong lĩnh vực HN&GD và ba là, các công trình nghiên cứu về MQH giữa pháp luật và đạo đức. Nhóm thứ nhất: Các công trình nghiên cứu về đạo đức trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình Dao đức trong lĩnh vực HN&GD được nghiên cứu nhiều ở Việt Nam bởi nó là đối tượng nghiên cứu của các chuyên ngành Triết học, Đạo đức học, đồng thời đạo đức gia đình có vai trò và giá trị to lớn ở một quốc gia chịu nhiều ảnh hưởng của các chuẩn mực đạo đức truyền thống như Việt Nam. Trước hết, đạo đức trong lĩnh vực HN&GD được đề cập đến trong các giáo trình chuyên ngành Triết học, Đạo đức học. Tuy nhiên, do giới hạn của một giáo trình, những vấn đề này sẽ không được đề cập chỉ tiết, cụ thể.

Ngoài giáo trình, cũng có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về đạo đức trong lĩnh vực HN&GD, trong đó có thé ké đến một số công trình tiêu biểu sau đây: Đôi với sách chuyên khảo, có thê kê đên cuôn “Xây dựng đạo đức gia đình ở nước ta hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Thọ. Sách đã có những đánh giá cụ thê về đạo đức gia đình đưới những tác động trái chiều của nền kinh tế thị trường, đưa ra các giải pháp định hướng đối với việc xây dựng đạo đức gia đình ở Việt Nam hiện nay. Theo tác giả, nền kinh tế thị trường tác động đến đạo đức gia đình truyền thống Việt Nam theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực. Tuy nhiên, ranh giới phân biệt tác động tích cực và tác động tiêu cực chỉ là tương đối, chúng tồn tại đan xen lẫn nhau trong mỗi cá nhân, trong từng gia đình.

Hai mặt này có thể chuyên hóa cho nhau và tác động lẫn nhau, nếu mặt tích cực mạnh thì sẽ làm giảm, hạn chế được mặt tiêu cực và ngược lại. Do đó, mỗi cá nhân phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện bản thân. Tác giả cũng đưa ra một số đề xuất đề xây dựng đạo đức gia đình ở Việt Nam trong giai đoạn phát triển của nền kinh tế thị trường. Tac giả Lê Thi có công trình nghiên cứu “Sy twong đồng và khác biệt trong quan niệm về HN&ŒÐ giữa các thé hệ người Việt Nam hiện nay”.

Trong công trình này, tác giả tìm hiểu về những điểm khác biệt và tương đồng trong quan điểm về HN&GD của từng thế hệ người Việt Nam hiện nay. Trong cuốn “Gia đình Việt Nam trong bồi cảnh đất nước đổi moi”, tac giả Lê Thi đã phân tích làm sáng tỏ các van đề về HN&GD ở Việt Nam trong thé ky 21. Nhìn chung, những tác phẩm này có dé cập các van đề liên quan đến đạo đức trong lĩnh vực HN&GD. Tuy nhiên, đây chỉ là những đề tài nghiên cứu về một số những khía cạnh của đạo đức gia đình, những vấn đề chung của văn hóa gia đình ở Việt Nam hiện nay chứ không đặt nó trong MQH với pháp luật HN&GD.

Học giả Phan Kế Bính có tác phẩm “Việt Nam phong tục ”. Đầy là một công trình lớn đề cập đến chuẩn mực đạo đức, phong tục, tập quán của người Việt về HN&GD. Có thé nói đây là một tư liệu quý giá dé hiểu rõ hơn về văn hóa của Việt Nam trong lĩnh vực HN&GD. Bên cạnh đó có một số tác giả, tác phẩm tiêu biéu khác như: Nguyễn Thế Long (1998): “Gia đình và dân tộc”; Phạm Côn Sơn (2003): “Đạo nghĩa trong gia đình ”; Vũ Ngọc Khánh (2007): “Van hóa gia đình Việt Nam ”.

Các công trình trên chủ yếu nghiên cứu về vấn đề đạo đức trong lĩnh vực HN&GD. Có thé nói, các công trình nghiên cứu về dao đức trong lĩnh vực này rất đa dạng và phong phú. Qua các công trình nghiên cứu này, chúng ta có thé thấy được vai trò, giá tri của các chuẩn mực đạo đức trong lĩnh vực HN&GD đối với xã hội và con người Việt Nam. Tuy nhiên, các công trình này chỉ nghiên cứu về đạo đức gia đình đơn thuần chứ không đề cập đến pháp luật hay đặt nó trong MQH với pháp luật HN&GD.

Nhóm thứ hai: Các công trình nghiên cứu về pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình Pháp luật có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các MQH xã hội nói chung, các MQH HN&GD nói riêng. Ở Việt Nam, pháp luật HN&GD được nghiên cứu là một chuyên ngành luật riêng. Bên cạnh đó, các chuyên ngành luật khác cũng đề cập đến lĩnh vực HN&GD như Luật hình sự, Luật dân sự, Luật hành chính. Do đó, pháp luật trong lĩnh vực HN&GD được đề cấp đến ở các giáo trình Luật HN&GD và các giáo trình chuyên ngành Luật có liên quan đến lĩnh vực HN&GD.

Tuy nhiên, trong phạm vi của một giáo trình, các vấn đề chỉ được đề cập ở mức độ phân tích khái quát các quy định, chế định của pháp luật. Hiện nay, có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về pháp luật HN&GD, bởi đó là điều không thé thiếu đối với hoạt động đào tạo, nghiên cứu, cũng như các hoạt động xây dựng, áp dụng pháp luật trên thực tiễn. Một số các công trình nghiên cứu về pháp luật HN&GD tiêu biểu có thê kê đến sau đây: Đầu tiên, có thé kể đến các công trình sách chuyên khảo về pháp luật trong lĩnh vực HN&GD như tác phẩm “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Luật HN&GP năm 2000” của đồng tác giả Nguyễn Văn Cừ và Ngô Thi Hường (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2002). Cuốn sách giới thiệu vài nét về sự phát triển của hệ thong pháp luật HN&GD Việt Nam; sự cần thiết của việc ban hành Luật HN&GD năm 2000 và những nội dung cơ bản của Luật HN&GD năm 2000.

Công trình giúp người đọc có cái nhìn rõ nét về sự phát triển của hệ thống pháp luật HN&GD Việt Nam, cũng như sự cần thiết ban 10 hành và các quy định của Luật HN&GD năm 2000. Tuy nhiên, có thé thay là công trình chủ yếu dé cập đến nội dung của Luật HN&GD năm 2000 và nó có mang nhiều giá trị tai thời điểm Luật HN&GD năm 2000 có hiệu lực. Hiện nay, khi Luật HN&GD năm 2000 đã hết hiệu lực và được thay thế bởi Luật HN&GD năm 2014 thì công trình cũng không còn nguyên giá trị, đồng thời sách cũng không đề cập đến vấn đề đạo đức hay MQH giữa pháp luật và đạo đức trong lĩnh vực HN&GD. Tác giả Nguyễn Văn Cừ có tác phẩm “Chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật HN@&ŒÐ Việt Nam” (Nhà xuất ban Tư pháp, 2008).

Tác phẩm đã khái quát về chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử, đồng thời nghiên cứu về chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật HN&GD Việt Nam năm 2000. Công trình đã cho thấy được pháp luật Việt Nam quy định quy định về chế độ tài sản vợ chồng qua các thời kỳ như thế nào và giúp hiểu rõ hơn các quy định về chế độ tài sản vợ chồng trong Luật HN&GD năm 2000. Công trình là một tài liệu tham khảo hữu ích dé hiểu rõ hon về chế độ tài sản vợ chồng và sự phát triển của các quy định pháp luật HN&GD Việt Nam. Trong tác phẩm “Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự - Phan các tội phạm ” (Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 2002) của tác giả Dinh Văn Qué đã phân tích chuyên sâu về các quy định của Bộ luật Hình sự trong đó có các tội phạm về xâm phạm chế độ HN&GD.

Tác pham đã phân tích rõ các quy định của Bộ luật Hình sự và các chế tài của pháp luật nhằm bảo vệ chế độ HN&GĐ ở Việt Nam. Thứ hai, công trình nghiên cứu pháp luật trong lĩnh vực HN&GD được đăng trên báo, tạp chí có thé kế đến như tác phẩm “Chế độ tài sản của vợ chong theo thỏa thuận trong pháp luật HN&GD Việt Nam” (Tạp chí Luật học, số 4/2015, trang 3-11) của tác giả Nguyễn Van Cừ. Đây là một công trình nghiên cứu về chế độ tài sản của vợ chồng sau khi Luật HN&GD năm 2014 của Việt Nam được ban hành cho phép vợ chồng thỏa thuận về tài sản trong thời kỳ hôn nhân. 11 Thứ ba, các luận văn, luận án nghiên cứu về pháp luật trong lĩnh vực HN&GĐ.

Đây là nhóm công trình nghiên cứu rất phong phú và đa dạng. Trong nhóm công trình này có thé ké đến một số các tác phẩm như luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Cừ “Chế độ tài sản của vợ chong theo pháp luật HN&ŒÐ Việt Nam” (Trường Đại học Luật Hà Nội, 2005). Luận án đã đề cập đến chế độ tài sản của vợ chồng theo quy định của Luật HN&GD năm 2000. Công trình sau đó đã được Nhà xuất bản Tư pháp xuất bản năm 2008.

Tác giả Bùi Thị Mừng có luận án tiến sĩ với đề tài “Chế định kết hôn trong Luật HN&GD - Van dé lý luận và thực tiễn” (Trường Dai học Luật Hà Nội, 2015). Tác phẩm trình bày những vấn đề lí luận cơ bản về chế định kết hôn; nêu những quy định của Luật HN&GD Việt Nam năm 2000 về kết hôn và thực tiễn thực hiện; đưa ra phương hướng và giải pháp hoàn thiện chế định kết hôn ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Tác giả Chu Minh Khôi có luận văn thạc sĩ với đề tài “Các trường hợp chia tài sản chung của vợ chong theo Luật HN&GP năm 2014” (Trường Dai học Luật Ha Nội, 2015).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Mối Quan Hệ Pháp Luật và Đạo Đức Trong Hôn Nhân Gia Đình: So Sánh Việt Nam và Hàn Quốc" khám phá sự tương tác giữa pháp luật và đạo đức trong lĩnh vực hôn nhân gia đình tại hai quốc gia này. Tác giả phân tích cách mà các quy định pháp lý và giá trị đạo đức ảnh hưởng lẫn nhau, từ đó chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa Việt Nam và Hàn Quốc. Bài viết không chỉ giúp độc giả hiểu rõ hơn về khung pháp lý và văn hóa hôn nhân gia đình mà còn mở ra những góc nhìn mới về cách mà pháp luật có thể phản ánh và điều chỉnh các giá trị đạo đức trong xã hội.

Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh pháp lý liên quan, bạn có thể tham khảo bài viết "Luận văn thạc sĩ luật học so sánh pháp luật về hợp đồng lao động việt nam và hàn quốc", nơi so sánh các quy định về hợp đồng lao động giữa hai quốc gia. Ngoài ra, bài viết "Luận văn tốt nghiệp luật tục hôn nhân của người dao đỏ ở huyện bắc hà tỉnh lào cai" cũng cung cấp cái nhìn sâu sắc về các quy định hôn nhân trong một cộng đồng dân tộc thiểu số tại Việt Nam. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về "Luận văn thạc sĩ luật học xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường theo pháp luật lào và việt nam dưới góc độ so sánh", để thấy được sự tương tác giữa pháp luật và các vấn đề xã hội khác. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về mối quan hệ giữa pháp luật và các giá trị văn hóa trong xã hội.