Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SỞ HỮU CHUNG HỢP NHẤT CỦA VỢ CHỒNG 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm về sở hữu, quyền sở hữu * Khái niệm sở hữu Theo Giáo trình Luật dân sự Việt Nam của trƣờng Đại học Luật Hà Nội thì sở hữu là việc chiếm giữ những sản vật tự nhiên, những thành quả lao động (ngày nay còn gồm cả những tƣ liệu sản xuất) của xã hội loài ngƣời [62, tr. Sở hữu là một phạm trù kinh tế mang yếu tố khách quan xuất hiện và phát triển song song cùng với sự xuất hiện và phát triển của xã hội loài ngƣời.
Mối quan hệ giữa ngƣời với ngƣời trong sự chiếm hữu và sản xuất ra của cải vật chất trong xã hội là quan hệ sở hữu [62, tr. Ở đây, quan hệ sở hữu không phản ánh mối quan hệ giữa ngƣời với vật mà nó phản ánh quan hệ giữa ngƣời với ngƣời đối với vật. Nội dung của quan hệ sở hữu đƣợc xét trên hai mặt: - Thứ nhất: Xét về mặt pháp lý, sở hữu đƣợc luật pháp hoá thành các quyền, bao gồm: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đạt. và cơ chế để thực hiện các quyền đó gọi là chế độ sở hữu.
- Thứ hai: Xét về mặt kinh tế, khi sở hữu đƣợc thực hiện về mặt kinh tế, nó gắn liền với lợi ích và thu nhập của chủ sở hữu đối với của cải, mang lại thu nhập cho chủ sở hữu. Mỗi hình thức sở hữu mang lại hình thức thu nhập khác nhau cho chủ sở hữu: - Sở hữu cổ phần thu nhập là cổ tức; - Sở hữu ruộng đất thu nhập là địa tô. Khi quan hệ sở hữu đƣợc luật pháp hoá thành các quyền: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt. và cơ chế để thực hiện các quyền phát sinh gọi là chế độ sở hữu.
Ở bất kỳ xã hội nào, chế độ sở hữu đều là vấn đề căn bản nhất của chế độ kinh tế xã hội đó. Bởi vì nó là nội dung quan trọng nhất trong quan hệ sản xuất, quyết định đến tính phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phát triển của lực lƣợng sản xuất. Chỉ có trên cơ sở giải quyết đúng đắn vấn đề sở hữu mới có căn cứ để giải quyết các vấn đề về động lực, vấn đề lợi ích kinh tế, vấn đề chính trị, vấn đề pháp quyền và các vấn đề xã hội. Theo từ điển Tiếng Việt thì sở hữu đƣợc hiểu là: “Chiếm hữu, sử dụng và hưởng thụ của cải vật chất trong xã hội” [39, tr.
Nhƣ vậy, qua các khái niệm trên ta có thể đƣa ra một khái niệm chung nhất về sở hữu: Sở hữu là sự thừa nhận về mặt pháp lý cũng nhƣ xã hội về một tài sản nào đó thuộc chủ sở hữu và chủ sở hữu có toàn quyền đối với tài sản của mình sở hữu. * Khái niệm quyền sở hữu Trong bất cứ một chế độ xã hội nào cũng tồn tại những cách thức nhất định về việc chiếm hữu, làm chủ của cải vật chất của con ngƣời. Mối quan hệ giữa ngƣời với ngƣời trong quá trình chiếm hữu của cải vật chất đó làm phát sinh các quan hệ sở hữu. Các quan hệ sở hữu này tồn tại một cách khách quan cùng với sự phát triển của xã hội.
Khi Nhà nƣớc và pháp luật ra đời, địa vị của giai cấp thống trị trong việc phân phối của cải vật chất trong xã hội đƣợc ghi nhận bằng những quyền năng hạn chế mà Nhà nƣớc trao cho ngƣời đang chiếm giữ của cải vật chất đó. Lúc này, các quan hệ sở hữu đã đƣợc điều chỉnh bằng pháp luật và hình thành nên quyền sở hữu của các chủ thể có tài sản. Với tƣ cách là một chế định pháp luật, quyền sở hữu có từ khi xuất hiện Nhà nƣớc và chỉ mất đi khi xã hội không còn sự phân chia giai cấp và không còn sự tồn tại của Nhà nƣớc. Theo từ điển Tiếng Việt, quyền sở hữu đƣợc hiểu là “Quyền chiếm giữ, sử dụng và định đoạt đối với tài sản của mình” [39, tr.
Dƣới góc độ pháp lý, quyền sở hữu là “phạm trù pháp lý phản ánh các quan hệ sở hữu trong chế độ sở hữu nhất định bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh những quan hệ về sở hữu trong xã hội” [62, tr. Khái niệm quyền sở hữu có thể hiểu theo nghĩa rộng là pháp luật về sở hữu trong một hệ thống pháp luật nhất định. Vì vậy, quyền sở hữu là hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nƣớc ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong lĩnh vực chiếm hữu, sử dụng và định đoạt các tƣ liệu sản xuất, tƣ liệu tiêu dùng, những tài sản khác theo quy định tại Điều 163 BLDS năm 2005. Theo nghĩa hẹp, quyền sở hữu đƣợc hiểu là mức độ xử sự mà pháp luật cho phép một chủ thể đƣợc thực hiện các quyền năng chiếm hữu, sử dụng và định đoạt trong những điều kiện nhất định.
Theo nghĩa này, có thể nói quyền sở hữu chính là những quyền năng dân sự chủ quan của từng loại chủ sở hữu nhất định đối với một tài sản cụ thể, đƣợc xuất hiện trên cơ sở nội dung của quy phạm pháp luật về sở hữu. Theo phƣơng diện quyền sở hữu đƣợc hiểu là một quan hệ pháp luật dân sự - quan hệ pháp luật dân sự về sở hữu. Theo nghĩa này quyền sở hữu bao gồm đầy đủ ba yếu tố của quan hệ pháp luật dân sự: chủ thể, khách thể, nội dung nhƣ mọi quan hệ pháp luật dân sự bất kì [62, tr. BLDS năm 2005 không nêu trực tiếp khái niệm về quyền sở hữu, nhƣng có quy định: “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật” [49, Điều 164].
Nhƣ vậy trong BLDS năm 2005, khái niệm quyền sở hữu đƣợc đƣa ra dƣới dạng liệt kê những nội dung của quyền sở hữu và chủ thể của quyền này. Đây có thể xem là một phƣơng pháp lập pháp rất riêng của Việt Nam, vì qua nghiên cứu luật dân sự của các nƣớc trên thế giới, chúng ta thấy họ không đƣa ra khái niệm về quyền sở hữu trong Bộ luật dân sự, mà khái niệm này chỉ tồn tại trong khoa học luật. Quyền sở hữu bao gồm ba quyền năng cơ bản: - Quyền chiếm hữu: là quyền nắm giữ, quản lý tài sản tức là việc ngƣời chiếm hữu giữ vật trong phạm vi kiểm soát của mình, ví dụ cất tiền bạc, tƣ trang trong tủ,.Quản lý tài sản: đƣợc hiểu là việc ngƣời chiếm hữu, kiểm soát sự tồn tại của tài sản và việc sử dụng tài sản; - Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hƣởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản; - Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản hoặc từ bỏ quyền sở hữu tài sản. Từ nội dung trên cho thấy chủ sở hữu một tài sản có toàn quyền đối với tài sản thuộc sở hữu của mình.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhƣ vậy, qua những khái niệm trên có thể đƣa ra định nghĩa về quyền sở hữu: Quyền sở hữu là toàn bộ quyền năng của chủ tài sản đối với tài sản mà mình sở hữu, những quyền năng này gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản theo quy định của pháp luật. Khái niệm về sở hữu chung Trong các hình thức sở hữu đƣợc quy định tại BLDS năm 2005 thì hình thức sở hữu chung đƣợc quy định với nhiều điều luật nhất (13 Điều, từ Điều 214 đến Điều 226). Trong BLDS năm 2005 đã nêu ra khái niệm sở hữu chung: “Sở hữu chung là sở hữu của nhiều chủ sở hữu đối với tài sản. Tài sản thuộc hình thức sở hữu chung là tài sản chung” [49, Điều 214].
Cơ sở xác lập sở hữu chung là sự thỏa thuận giữa các chủ sở hữu đối với tài sản đƣợc gọi là đồng chủ sở hữu. Các đồng chủ sở hữu có quyền chung nhau chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản chung. Nhƣng khi tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự, mỗi đồng chủ sở hữu lại có tƣ cách là một chủ sở hữu độc lập. Các đặc điểm của sở hữu chung trong pháp luật dân sự: - Khách thể của sở hữu chung là thống nhất, đó là một tài sản hoặc một tập hợp tài sản mà nếu đem chia tách về mặt vật lý, tức là chia ra các phần khác nhau.
thì sẽ không còn giá trị sử dụng nhƣ ban đầu; các chủ sở hữu sẽ không khai thác đƣợc công dụng vốn có của nó. - Về chủ thể, mỗi đồng chủ sở hữu chung khi thực hiện các quyền năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản chung sẽ liên quan đến quyền lợi của tất cả các đồng chủ sở hữu khác. Tuy nhiên, mỗi đồng chủ sở hữu trong sở hữu chung có vị trí độc lập và tham gia quan hệ pháp luật dân sự với tƣ cách là một chủ sở hữu độc lập. - Việc thực hiện các quyền năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản chung của các đồng chủ sở hữu cũng có những đặc điểm riêng.
Tuy rằng, địa vị mỗi đồng chủ sở hữu cũng có tính chất độc lập nhƣng quyền năng của mỗi chủ sở hữu lại thống nhất đối với toàn bộ khối tài sản chung mà không phải chỉ riêng với phần giá trị tài sản mà họ có. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Các hình thức sở hữu chung + Sở hữu chung theo phần: Là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu đƣợc xác định đối với tài sản chung [49, Điều 216, khoản 1]. Điều này có thể hiểu rằng mỗi chủ sở hữu đƣợc xác định phần sở hữu của mình. BLDS năm 2005 quy định “Các chủ sở hữu chung cùng quản lý tài sản chung theo nguyên tắc nhất trí, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác” [49, Điều 221].
Điều này thể hiện ở việc các đồng chủ sở hữu phải cùng nhau bàn bạc để thống nhất về cách bảo quản, sử dụng tài sản trên cơ sở của nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Khi tài sản thuộc sở hữu chung đƣợc sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh mà sinh lợi thì số lợi đó sẽ đƣợc chia cho các đồng chủ sở hữu theo tỷ lệ phần quyền tƣơng ứng với mỗi ngƣời.