Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC RÈN LUYỆN KĨ NĂNG SỬ DỤNG SGK VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA KTDH TÍCH CỰC NHẰM GÓP PHẦN PHÁT HUY TÍNH TỰ LỰC CỦA HỌC SINH 1. Quan niệm về SGK Khoản 2, điều 29 của Luật Giáo dục Việt Nam 2005 quy định: “Sách giáo khoa cụ thể hoá các yêu cầu về nội dung kiến thức và kĩ năng quy định trong chương trình giáo dục của các môn học ở mỗi lớp của giáo dục phổ thông, đáp ứng yêu cầu về phương pháp giáo dục phổ thông”[25, tr. Như vâ ̣y, SGK là cụ thể hoá chương trình; tức là cụ thể hoá chuẩn về mục tiêu, phạm vi, số lượng và mức độ của kiến thức, kĩ năng, thái độ. Thái Duy Tuyên “SGK là phương tiện dạy học quan trọng nhất.
SGK cung cấp cho HS hệ thống tri thức và những tình cảm lành mạnh, những phong cách và phương pháp làm việc hiện đại”[35, tr. Tuy mỗi cách phát biểu khác nhau nhưng theo chúng tôi các cách phát biểu đều có ý chung rằng SGK là cuốn sách trình bày hệ thống kiến thức cơ sở của một khoa học; phản ánh các tư tưởng văn hoá của mỗi dân tộc; cụ thể hoá các yêu cầu về nội dung kiến thức và kĩ năng quy định trong chương trình giáo dục của quốc gia. SGK là một trong ba yếu tố quyết định nhất đến chất lượng dạy học, là tài liệu sử dụng chính thức trong giảng dạy và học tập. SGK là phương tiện rất cần thiết cho quá trình tổ chức nhận thức cho HS của GV, giúp định hướng quá trình tự học, tự phát hiện, tự chiếm lĩnh tri thức mới và thực hành theo năng lực của người học, góp phần giáo dục nhân cách và bồi dưỡng tâm hồn cho HS.
Vai trò, chức năng của SGK Vật lí * Vai trò, chức năng của SGK Vật lí đối với HS Theo GS.TS Nguyễn Đức Thâm “SGK Vật lí là tài liệu quan trọng nhất có tác dụng hỗ trợ, tạo điều kiện cho HS tự học, tự tiếp thu tri thức Vật lí cần thiết cho bản thân. SGK Vật lí giúp cho HS tìm hiểu kiến thức mới, nghiên cứu và nghiền ngẫm những điều chưa hiểu biết hoặc hiểu chưa thấu đáo về kiến thức Vật lí. SGK Vật lí giúp phát triển những kĩ năng làm bài tập, thực hành thí nghiệm, kĩ năng lao động, hình thành và phát triển ở HS phương pháp học tập, nghiên cứu khoa học, thu thập thông tin và xử lí thông tin”[27, tr. Thái Duy Tuyên “SGK Vật lí tạo điều kiện cho người học có thể tự kiểm tra, tự đánh giá kiến thức, kĩ năng, tự khẳng định khả năng của mình đối với môn học.
Từ đó người học sẽ có được biện pháp cụ thể để bổ sung kiến thức và kĩ năng Vật lí cho bản thân. Nhờ đó, HS tự điều chỉnh để trở thành một cái tôi hoàn thiện về đức, trí, thể, mỹ. Việc làm này còn có ý nghĩa quan trọng là góp phần đáp ứng yêu cầu về lực lượng lao động của quốc gia trong quá trình hội nhập và phát triển”[35, tr. Như vậy, vai trò, chức năng cơ bản của SGK Vật lí đối với HS là một phương tiện cung cấp kiến thức Vật lí, thông tin khoa học bộ môn cho HS; giúp HS tự tìm kiến thức mới, tự kiểm tra, đánh giá bản thân, tra cứu thông tin, tạo điều kiện cho HS nắm vững, nắm chắc, nắm chính xác kiến thức.
Từ đó hình thành ở các em năng lực tự học, tự làm chủ kiến thức, thông tin cần thiết. Đồng thời SGK Vật lí giúp phát triển năng lực nhận thức và hình thành nhân cách cho HS. * Vai trò, chức năng của SGK Vật lí đối với GV SGK Vật lí cung cấp các kiến thức phù hợp với yêu cầu về chuẩn kiến thức và chuẩn kĩ năng theo quy định của chương trình giáo dục bộ môn. Từ đó, GV xác định mục tiêu bài dạy, lựa chọn phương án, phương pháp dạy học để tổ chức cho HS chiếm lĩnh tri thức và rèn luyện các kĩ năng cần thiết.
Song song với đó, GV được định hướng tham khảo các tài liệu cần thiết, định hướng đặt câu 6 c hỏi, bài tập, gợi ý nhiệm vụ học tập, giao nhiệm vụ nghiên cứu cho HS, cho các nhóm HS. Khi xác định rõ mục tiêu kiến thức, GV sẽ tổ chức tốt cho mỗi HS, mỗi nhóm HS tương tác với kiến thức. Đây cũng chính là bước quan trọng của việc rèn luyện và hình thành cho HS những kĩ năng cần thiết. Đồng thời, SGK có thể giúp người dạy khêu gợi và phát huy khả năng tự học của người học.
Như vậy, vai trò, chức năng cơ bản của SGK Vật lí đối với GV là phương tiện quan trọng nhất cung cấp các kiến thức phù hợp với yêu cầu về chuẩn kiến thức và chuẩn kĩ năng theo quy định của chương trình giáo dục. SGK giúp GV tham khảo, lựa chọn phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá HS và định hướng quá trình tổ chức hoạt động nhận thức toàn diện cho HS, giáo dục nhân cách, bồi dưỡng tâm hồn, hình thành năng lực cho HS. Kĩ năng sử dụng SGK Trên cơ sở đặc điểm của SGK, đề tài xác định các kĩ năng sử du ̣ng SGK gồm: ki ̃ năng sử du ̣ng kênh hình và ki ̃ năng sử du ̣ng kênh chữ. Chính vì vậy, luận văn sẽ dùng thuật ngữ “ki ̃ năng sử dụng kênh hình, kênh chữ” thay cho thuật ngữ “ki ̃ năng sử dụng SGK”.
Khái niệm kĩ năng sử dụng kênh hình, kênh chữ Theo GS. Phạm Hữu Tòng “ Kĩ năng là khả năng của con người thực hiện các hoạt động nhất định dựa trên việc sử dụng các kiến thức và kĩ xảo đã có. Cơ sở tâm lí của kĩ năng là sự hiểu mối liên hệ tương hỗ giữa mục đích hoạt động, các điều kiện hoạt động và các cách thức thực hiện hoạt động. Kĩ năng dựa trên kiến thức, kĩ năng là kiến thức trong hành động” [30, tr.
Khi con người hoạt động liên tục và lặp lại một hoạt động nào đó chuyên biệt một cách thành thạo sẽ hình thành kĩ năng, kĩ xảo đối với công việc đó. Theo quan niệm về kĩ năng như trên, có thể quan niệm kĩ năng sử dụng kênh hình, kênh chữ là khả năng mà mỗi người học, người dạy có thể khai thác, xử lí, sử dụng linh hoạt các kênh thông tin có trong SGK một cách có chủ đích mang lại hiệu quả nghiên cứu, học tập cao nhất cho bản thân; từ đó nâng cao chất lượng học tập, giảng dạy, chất lượng sống cho bản thân và cộng đồng. Các thao tác sử dụng kênh hình, kênh chữ trong SGK * Các thao tác sử dụng kênh chữ: Khi làm viê ̣c với kênh chữ có 3 bước cơ bản: thu thâ ̣p, xử lí và vâ ̣n dụng thông tin từ kênh chữ. Trong mỗi bước lại gồ m nhiều thao tác, có thể tóm tắ t các thao tác đó như sau: Bảng 1.1: Các thao tác sử du ̣ng kênh chữ Bước Các thao tác 1.
Xác định mục tiêu qua đề mục hoặc nhiệm vụ được GV giao 1. Đọc lướt đề mục, nội dung, gạch chân từ khóa, số liệu, thông tin từ công thức kênh chữ 3. Đọc kỹ các thông tin cần thiết 4. Viết ra các ý chính và tóm tắt các thông tin cần thiết 1.
Xác định nội dung thông tin cần xử lý 2. Phân tích mối liên hệ của thông tin tin từ kênh chữ 3. Viết ra mối liên hệ của thông tin vừa phân tích 4. Khái quát hóa các thông tin vừa xử lí 1.
Xác định mục tiêu vận dụng thông tin 3. Xác định các hướng vận dụng thông tin thông tin từ 3. Bằng kinh nghiệm, trực giác chọn ra hướng vận dụng kênh chữ thông tin phù hợp nhất 4. Kiểm tra tính khả thi và kết quả vận dụng thông tin * Các thao tác sử dụng kênh hình: Dựa vào đặc điểm của mỗi loại kênh hình (hình ảnh, bảng biể u, đồ thi.), ̣ có thể tóm tắt các thao tác tổ chức rèn luyện kĩ năng sử dụng kênh hình như sau: 8 c Bảng 1.2: Các thao tác sử du ̣ng kênh hình Loại kênh Các thao tác sử dụng kênh hình hình 1.
Quan sát toàn diện hình vẽ ( hình ảnh) 2. Phân tích, nhận định hình này nói về nội dung gì, mô tả vật hoặc hiện tượng gì trong thực tế Hình vẽ 3. Nhận định nội dung kiến thức ẩn trong hình là gì và liên quan thế (hình nào với vấn đề đang cần giải quyết, nghiên cứu ảnh) 4. Đàm thoại, thảo luận về hình và lựa chọn nội dung cần thiết phục vụ yêu cầu học tập, nghiên cứu 5.
Sử dụng giải quyết nhiệm vụ học tập 1. Xem ghi chú về bảng biểu đang quan sát, xem thông tin tổng quát Bảng biểu về nội dung các cột, các dòng 2. Xác định giá trị của các đại lượng, ý nghĩa của con số cho trong bảng 3. Mô tả và thiết lập mối quan hệ giữa thông tin ở các cột và dòng 4.
Khái quát hóa nội dung thể hiện ở bảng biểu 5. Sử dụng giải quyết nhiệm vụ học tập 1. Quan sát số lượng và tên gọi các trục của đồ thị, đơn vị tính, xác định Đồ thị đồ thị biểu diễn mối quan hệ giữa các đại lượng vật lí hay quá trình vật lí nào 2. Xác định giá trị của các đại lượng vật lí tại một điểm trên đồ thị theo đơn vị tương ứng trên các trục tọa độ (nếu đồ thị cho phép) 3.
Xác định đặc điểm của đồ thị và diễn đạt, giải thích đặc điểm đó về phương diện vật lí 4. Trình bày hiện tượng hay quá trình vật lí xảy ra theo đồ thị 5. Sử dụng giải quyết nhiệm vụ học tập 9 c 1. Kĩ thuật dạy học tích cực 1.
Khái niệm Sau khi nghiên cứu các tài liệu khác nhau, chúng tôi thấy rằng mỗi tác giả có cách phát biểu khác nhau về KTDH. Tuy nhiên chúng đều có nội hàm và bản chất giống nhau: Kĩ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hành động của giáo viên và học sinh trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học. Một số kĩ thuật dạy học tích cực được sử dụng trong luận văn Theo PGS. Đỗ Hương Trà, PGS.
Nguyễn Văn Khải và một số các tác giả khác thì có thể kể ra một số KTDH tích cực như: Động não, sơ đồ tư duy, bể cá, mảnh ghép, khăn phủ bàn, KWL, ổ bi, XYZ, tia chớp, ba lần ba, lắng nghe và phản hồi tích cực…[19],[31],[32]. Tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu của luận văn chúng tôi chỉ xin sử dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực nhất định.