Chương 1: Khái quát chung về quyền chiếm hữu 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chương 2: Nội dung pháp luật thực định về quyền chiếm hữu trong pháp luật Việt Nam Chương 3: Thực trạng pháp luật và một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật Việt Nam về quyền chiếm hữu 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN CHIẾM HỮU Quyền chiếm hữu được xem là một trong những nội dung cơ bản và trọng yếu của Bộ luật Dân sự, là tiền đề của các quan hệ pháp luật dân sự về tài sản. Quyền chiếm hữu có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội cũng như trong pháp luật dân sự. Trong mỗi hệ thống pháp luật của các nước đều ghi nhận sự tồn tại của quyền chiếm hữu, tuy nhiên các quan điểm có thể chưa thực sự đầy đủ, đồng nhất, vì vậy, việc xác định bản chất thật sự của quyền chiếm hữu sẽ cho ta cái nhìn khoa học, logic và khái quát để từ đó có được những đánh giá khách quan đối với các quy định thực định của pháp luật Việt Nam về quyền chiếm hữu.
Sự hình thành và phát triển của quyền chiếm hữu trong pháp luật Dân sự 1. Nguồn gốc, lịch sử Nghiên cứu về luật pháp thời kỳ La Mã, Mác và Ăng ghen đã đánh giá rất cao về trình độ lập pháp thời kỳ này. Hai ông cho rằng những người La Mã chính là những người đầu tiên khởi xướng ra luật tư hữu, luật trừu tượng và luật tư pháp và họ đã đạt đến trình độ cao ở trình độ lập pháp. Tuy vậy, các luật gia La Mã đã không để lại một khái niệm về quyền chiếm hữu.
Qua nghiên cứu về quyền sở hữu trong luật La Mã, chúng tôi có thể khái niệm về chiếm hữu trong luật La Mã như sau: Chiếm hữu (Possessio) là: Thực tế nắm giữ, quản lý tài sản và coi tài sản đó là của mình mà không phụ thuộc vào ý chí của người khác. Luật La Mã được xây dựng cách đây hàng ngàn năm và được coi là bộ luật có sức ảnh hưởng mạnh mẽ và rộng rãi nhất đến hệ thống pháp luật của các quốc gia hiện đại. Đây là hệ thống pháp luật hoàn chỉnh nhất của Nhà nước chiếm hữu nô lệ. Pháp luật La Mã dựa trên cơ sở tư hữu, sự thể hiện pháp lý, những điều kiện sống và những xung đột xã hội thời kỳ lúc bấy giờ, được xây dựng công phu với sự đóng góp to lớn của các luật gia La Mã.
Pháp luật La Mã thể hiện về mặt pháp lý có tính chất kinh điển về điều kiện và xung đột xã hội, trong đó có sự ngự trị của chế độ tư hữu thuần thúy mà sau này các văn bản pháp luật khó có thể phủ nhận tính giá trị của nó. Lý luận pháp luật dân sự nói chung và đặc biệt là luật La Mã nói riêng đến nay vẫn còn nguyên giá trị thực tế. Trong luật La Mã, chiếm hữu với ý nghĩa là chiếm dụng đồ vật trên thực tế, có quyền kiểm soát và chi phối vật [8, tr. Chiếm hữu là quan hệ làm cơ sở phát sinh 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cho sở hữu và quyền sở hữu.
Trên cơ sở đó giữa chiếm hữu và quyền sở hữu có những mối liên hệ hữu cơ với nhau. Tuy nhiên theo quan điểm của các nhà lập pháp La Mã trong hệ thống luật La Mã hoàn thiện hơn ở giai đoạn sau, “chiếm hữu” và “quyền sở hữu” là hai phạm trù khác biệt có thể hòa nhập trong cùng một chủ thể, nhưng cũng có thể thuộc về các chủ thể khác nhau. Luật La Mã cũng quy định về các hình thức chiếm hữu như sau: Chiếm hữu hợp pháp, chiếm hữu bất hợp pháp bao gồm chiếm hữu bất hợp pháp ngay thẳng và chiếm hữu bất hợp pháp không ngay thẳng [13, tr. Việc phân biệt chiếm hữu bất hợp pháp ngay thẳng và không ngay thẳng có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền sở hữu cũng như xác lập quyền sở hữu, người chiếm hữu bất hợp pháp ngay thẳng có thể trở thành chủ sở hữu theo thời hiệu.
Trong thực tế cũng như trong luật La Mã phân định một dạng chiếm hữu ngoại lệ: Chiếm hữu phái sinh từ quyền sở hữu, những người này có quyền tự mình bảo vệ việc chiếm hữu mà không cần thông qua chủ sở hữu. Về hiệu lực của sự chiếm hữu, để việc chiếm hữu được pháp luật bảo vệ một cách tuyệt đối, thì theo luật La Mã, việc chiếm hữu không được vi phạm một trong ba trường hợp: chiếm hữu có vũ lực, chiếm hữu không công khai và chiếm hữu tạm bợ. Về xác lập và chấm dứt chiếm hữu trong luật La Mã, sự chiếm hữu được ghi nhận trong một hoàn cảnh thực tế và thông thường tư cách của người chiếm hữu đối với vật được thừa nhận mà không nhất thiết phải tìm hiểu tính xác thực, hợp pháp của tư cách người chiếm hữu đó. Tư cách của người chiếm hữu được xác định dựa vào hai yếu tố cấu thành quan hệ chiếm hữu, pháp luật La Mã gọi là corpus và animus [17].
Corpus được hiểu là việc thực hiện trên thực tế các hành vi mang tính chất thể hiện quyền năng đối với tài sản. Corpus thường được các nhà luật học La Mã cổ đại phân tích thành việc xác lập, thực hiện các giao dịch mang tính vật chất tác động lên tài sản. Animus được coi là yếu tố ý chí hay yếu tố chủ quan. Đó là trạng thái tâm lý thể hiện thành thái độ ứng xử hàm chứa quyền năng của người chiếm hữu đối với tài sản, hay còn được hiểu là yếu tố tâm lý hay yếu tố chủ quan, là thái độ tâm lý thể hiện thành cung cách cư xử phù hợp với các quyền năng mà người chiếm hữu tự cho là có được đối với tài sản.
Luật La Mã cho phép chiếm hữu thông qua người đai diện, người đại diện phải có ý chí chiếm hữu vật cho người được đại diện chứ không phải cho bản thân mình [11, tr. Chiếm hữu chấm dứt khi một trong hai yếu tố cấu thành nên nó là 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com corpus possessionis và animus possessionis không còn. Như vậy các trường hợp chấm dứt bao gồm: thực tế nắm giữ vật không còn hoặc chủ thể chiếm hữu thể hiện ý chí từ bỏ chiếm hữu [11, tr. Vật không còn tồn tại hoặc không thể thuộc sở hữu cá nhân cũng là một trong những trường hợp chấm dứt chiếm hữu.
Chiếm hữu theo luật La Mã được bảo vệ bằng các phương tiện pháp lý đặc biệt còn gọi là interdiction (điều quan cấm) bao gồm những điều cấm để đề phòng vi phạm quyền chiếm hữu (interdicta retinendae possesionsis) và điều cấm để trả lại sự chiếm hữu (interdicta recuperandae possesionsis) [8]. Trong đó, interdicta là những chỉ định của quan tòa về việc chấm dứt không chậm chễ những hành vi xâm phạm đến trật tự xã hội và lợi ích cá nhân. Một trong những đặc trưng của việc bảo vệ chiếm hữu thông qua interdicta là trong quá trình xét xử không đòi hỏi phải chứng minh quyền đối với vật bị chiếm hữu. Điều này có nghĩa, trong số các bên tranh chấp, bên nào đang nắm giữ vật được suy đoán là có quyền, bên còn lại nếu muốn khẳng định điều ngược lại thì phải chứng minh chứ không được tự ý chiếm đoạt vật từ người đang chiếm hữu.
Điều này nhằm mục đích bảo vệ cho sự ổn định của các quan hệ xã hội đang tồn tại, tình trạng của người chiếm hữu đối với vật sẽ được duy trì cho đến khi có người khác chứng minh được quyền đối với vật. Vì nhiều lý do trong lịch sử, Việt Nam cũng là nước chịu ảnh hưởng sâu sắc và toàn diện bởi pháp luật La Mã đặc biệt là trong lĩnh vực dân sự. Hầu hết các nguyên tắc trong luật La Mã đều được tìm thấy trong pháp luật Việt Nam. Đặc biệt là các chế định về địa vị pháp lý của chủ thể trong quan hệ dân sự; chế định tài sản; chế định nghĩa vụ hợp đồng và chế định thừa kế.
Các nhà làm luật Việt Nam đã kế thừa những tinh túy trong pháp luật La Mã, đã cụ thể và chi tiết hơn các nguyên tắc ấy trong pháp luật của mình. Tuy nhiên, như đã phân tích chúng ta không tiếp nhận hoàn toàn một cách thụ động mà là sự tiếp thu có chọn lọc để phù hợp với xã hội Việt Nam, đồng thời loại bỏ những quy định lạc hậu trong tư pháp La Mã. Điều này được thể hiện rõ nhất qua chế định hôn nhân – gia đình và các quy định về tài sản hay một số quy định về thừa kế. Mặt khác, thông qua sự so sánh các quy định mới trong của BLDS 2015 với các quy định trong BLDS 2005 và quy định trong luật La Mã thể hiện pháp luật dân sự Việt Nam cũng ngày càng có xu hướng tiếp nhận luật La Mã một cách sâu sắc hơn.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Khái niệm và đặc điểm 1. Khái niệm chiếm hữu Để tồn tại và phát triển, con người với tính cách là một thực thể xã hội, cần phải có những cơ sở vật chất nhất định. Từ thời kỳ sơ khai, ý thức về xã hội, về cộng đồng còn hạn chế nhưng người nguyên thủy đã biết chiếm giữ hoa trái tự nhiên, chim thú săn bắt được, công cụ lao động để phục vụ nhu cầu và tồn tại.
Chiếm hữu chính là việc chiếm giữ thành quả lao động, tư liệu sản xuất của xã hội loài người. Chiếm hữu là phạm trù khách quan, tất yếu, vĩnh viễn, là điều kiện trước tiên của hoạt động lao động sản xuất. Chủ thể chiếm hữu là cá nhân, tập thể và xã hội. Đối tượng của chiếm hữu từ buổi ban đầu của loài người là cái có sẵn trong tự nhiên cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Các chủ thể chiếm hữu không chỉ chiếm hữu tự nhiên mà cả xã hội, tư duy, thân thể, cả các vô hình và cái hữu hình. Theo quan điểm của Mác xít khái niệm gốc của sở hữu là “sự chiếm hữu” [5, tr. Theo đó: Sở hữu là hình thức xã hội – lịch sử nhất định của sự chiếm hữu, cho nên có thể nói: Sở hữu là phương thức chiếm hữu mang tính chất lịch sử cụ thể của con người, những đối tượng dùng vào mục đích sản xuất và phi sản xuất. Sở hữu luôn luôn gắn liền với vật dụng – đối tượng của sự chiếm hữu.
Đồng thời sở hữu không chỉ đơn thuần là vật dụng, nó còn là quan hệ giữa con người với nhau về vật dụng [6, tr.