phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tạo động lao động thông qua thù tài chính trong doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng tạo động lao động thông qua thù tài chính tại Công ty Cổ phần Vận tải và Dịch vụ hàng hoá Hà Nội Chƣơng 3: Giải pháp tạo động lao động thông qua thù tài chính tại Công ty Cổ phần Vận tải và Dịch vụ hàng hoá Hà Nội. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG THÔNG QUA THÙ LAO TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm động lực lao động Động lực là sự thôi thúc con ngƣời cần hành động, nó đƣợc ví nhƣ ―động cơ của một cỗ máy để cỗ máy hoạt động‖.
―Động cơ‖ tốt máy chạy nhanh, chạy đúng. Động lực mạnh khiến con ngƣời hành động nhanh, hành động chính xác. Động cơ là mục tiêu thúc đẩy hành động của con ngƣời nhằm thoả mãn nhu cầu và tình cảm của họ. Động cơ luôn gắn liền với nhu cầu và hoạt động của mỗi con ngƣời.
Động cơ lao động của ngƣời lao động luôn xuất phát từ việc họ mong muốn thoả mãn các nhu cầu nhƣ các nhu cầu cơ bản thiết yếu đến các nhu cầu đƣợc phát triển, đƣợc tôn trọng. Nhu cầu gắn liền với một cơ thể sống, gắn liền với sự tồn tại và phát triển của con ngƣời. Do vậy hệ thống nhu cầu của con ngƣời rất phong phú và đa dạng, tuy nhiên, về cơ bản các nhu cầu này đƣợc chia thành hai nhóm chính là nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần. Ngƣời lao động luôn luôn mong muốn thoả mãn đƣợc càng nhiều nhu cầu càng tốt.
Mức độ thoả mãn các nhu cầu cho ngƣời lao động tạo ra lợi ích mà họ nhận đƣợc. Động lực là một thuật ngữ đƣợc sử dụng nhiều và có nhiều cách tiếp cận khác nhau trong quá trình nghiên cứu về động lực lao động. Tuy nhiên, có thể hiểu chung nhất về động lực là tất cả những gì nhằm thôi thúc, khuyến khích động viên con ngƣời thực hiện những hành vi theo mục tiêu. 9 Theo Nguyễn Vân Điềm, Nguyễn Ngọc Quân ―Động lực lao động là sự khao khát tự nguyện của ngƣời lao động để tăng cƣờng nỗ lực nhằm hƣớng tới một mục tiêu kết quả nào đó‖.
Còn theo Nguyễn Thị Hồng (2019), động lực lao động là sự nỗ lực một cách tự nguyện của NLĐ để tăng cƣờng các hoạt động lao động hƣớng tới việc đạt đƣợc mục tiêu của mình thông qua việc đạt đƣợc các mục tiêu của tổ chức [5]. Trong sản xuất kinh doanh, muốn đạt đƣợc hiệu quả cao, năng suất lao động cao thì bất kỳ tổ chức nào cũng cần phải có đội ngũ nhân viên mạnh. Ngoài trình độ chuyên môn, đạo đức thì vấn đề động lực lao động là một trong những yếu tố quyết định đến năng suất và hiệu quả làm việc của ngƣời lao động. Để tạo cho nhân viên vui vể, tích cực và có tính sáng tạo cao trong công việc thì cần phải có biện pháp tạo động lực hiệu quả.
―Động lực lao động chính là sự khao khát và tự nguyện của ngƣời lao động để tăng cƣờng nỗ lực nhằm đạt đƣợc các mục tiêu của tổ chức‖ [8] Theo Marier và Lauler (1973) đã đƣa ra mô hình về kết quả thực hiện công việc của mỗi cá nhân nhƣ sau: Kết quả thực hiện công việc = Khả năng x Động lực Khả năng = Khả năng bẩm sinh x Đào tạo x Các nguồn lực Động lực = Khao khát x Tự nguyện Với cách hiểu nhƣ trên về động lực lao động, có thể hiểu tạo động lực lao động chính là quá trình làm nảy sinh động lực lao động trong mỗi cá nhân NLĐ. ―Tạo động lực lao động là hệ thống các biện pháp, chính sách, cách ứng xử của tổ chức tác động đến ngƣời lao động nhằm làm cho ngƣời lao động có 10 động lực lao động trong công việc, thúc đẩy họ hài lòng hơn với công việc và nỗ lực phấn đấu để đạt đƣợc các mục tiêu của bản thân và tổ chức‖ [8] Vậy thực chất của tạo động lực chính là việc xác định các nhu cầu của ngƣời lao động, thỏa mãn các nhu cầu hợp lý của ngƣời lao động làm tăng thêm lợi ích cho họ để họ có thể làm việc tích cực, tự giác, sáng tạo và hiệu quả nhất. Dựa trên các phân tích trên, động lực lao động là tất cả những gì nhằm thôi thúc, khuyến khích động viên con ngƣời thực hiện những hành vi làm việc, theo mục tiêu cụ thể nào đó của cá nhân hay tổ chức. Biểu hiện của động lực lao động là sự sẵn sàng nỗ lực say mê làm việc nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức cũng nhƣ của bản thân NLĐ.
Động lực càng mạnh, thì sự hăng hái, nhiệt tình và trách nhiệm đối với công việc càng cao, càng tạo cho NLĐ mức độ quyết tâm cao để đạt đƣợc mục tiêu cũng nhƣ hiệu quả cao trong công việc. Động lực lao động xuất hiện trong quá trình lao động, là nguồn gốc dẫn đến tăng năng suất lao động cá nhân và tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Do đó, doanh nghiệp muốn tạo động lực cho NLĐ cần phải nghiên cứu, tìm hiểu những vấn đề thuộc về cá nhân họ nhƣ các yếut tố thuộc về nhu cầu của ngƣời lao động và môi trƣờng làm việc, công việc, mối quan hệ của họ trong doanh nghiệp từ đó tìm ra các biện pháp tạo động lực phù hợp với từng đối tƣợng NLĐ. Khái niệm tạo động lực lao động Tạo động lực lao động là hệ thống các biện pháp, chính sách, thủ thuật, hoạt động, cách ứng xử của doanh nghiệp tác động đến NLĐ nhằm làm cho NLĐ nỗ lực làm việc hiệu quả nhất trong công việc.
Nhƣ vậy, có thể hiểu tạo động lực lao động chính là quá trình làm nảy sinh, duy trì và tăng cƣờng động lực lao động trong mỗi cá nhân NLĐ. 11 Theo Nguyễn Vân Điềm, Nguyễn Ngọc Quân (2007), Lê Thanh Hà (2012), Nguyễn Thị Hồng (2019), đều thống nhất tạo động lực lao động là tổng hợp các biện pháp và cách ứng xử của tổ chức/doanh nghiệp, của các nhà quản lý nhằm tạo ra sự khao khát và tự nguyện của ngƣời lao động cố gắng phấn đấu để đạt đƣợc các mục tiêu của tổ chức/doanh nghiệp. Nhƣ vậy, các nghiên cứu đều thống nhất đặc điểm chính, cơ bản của tạo động lực lao động trong doanh nghiệp là: (i) hệ thống các biện pháp, chính sách, cách ứng xử của doanh ghiệp tác động đến NLĐ; (2) mục đích của tạo động lực là làm cho NLĐ có động lực lao động, thúc đẩy họ hài lòng hơn với công việc và nỗ lực phấn đầu để đạt đƣợc các mục tiêu của bản thân và doanh nghiệp. Nhƣ vậy, thực chất của tạo động lực là việc các nhà lãnh đạo quản lý của mỗi doanh nghiệp, thông qua các chính sách, biện pháp, ứng xử.
đối với NLĐ của mình, thực hiện gia tăng thêm lợi ích cho họ, thỏa mãn các nhu cầu hợp lý của họ, để kích thích họ lao động tích cực, tự giác, sáng tạo và hiệu quả nhất. h lao t i chính Thù lao tài chính là cách tiếp cận của các nhà nghiên cứu về thù lao lao động, phân chia thù lao lao động theo lợi ích vất chất và lợi ích tinh thần mà ngƣời lao động nhận đƣợc từ hoạt động lao động của họ. Với các lợi ích vật chất mà ngƣời lao động nhận đƣợc thì thuộc nhóm thù lao tài chính còn với các lợi ích tinh thần thì gọi là thù lao phi tài chính. Theo Đỗ Thị Tƣơi (2019), Thù lao tài chính là các khoản thù lao đƣợc doanh nghiệp thực hiện thông qua các công cụ bằng vật chất, giúp NLĐ tái sản xuất sức lao động.
Nó bao gồm các khoản nhƣ lƣơng cơ bản, phụ cấp lƣơng, tiền thƣởng cố định hàng năm, hoa hồng, phân chia năng suất, phân 12 chia lợi nhuận, bảo hiểm, trợ cấp xã hội, phúc lợi tài chính, an sinh xã hội. Trong đó lƣơng cơ bản là nền tảng của hệ thống thù lao [12]. Các thành phần của thù lao tài chính gồm: tiền lƣơng, khuyến khích tài chính và các phúc lợi tài chính. Tiền lƣơng là số lƣợng tiền mà ngƣời sử dụng lao động trả cho NLĐ thông qua sự thỏa thuận giữa các bên trong quan hệ lao động và phù hợp với các quy định của pháp luật lao động (Đỗ Thị Tƣơi, 2019).
Nó bao gồm cả lƣơng cơ bản, phụ cấp lƣơng và các khoản doanh nghiệp chi trả cho ngƣời lao động có tính chất lƣơng. Cùng với tiền lƣơng, ngƣời lao động còn nhận đƣợc các khoản khuyến khích tài chính từ doanh nghiệp. Tuy nhiên trong phạm vi bài viết này, để phù hợp với đặc thù của Công ty lựa chọn trong phạm vi nghiên cứu, em xin chỉ nghiên cứu các khoản khuyến khích tài chính thuộc các chế độ thƣởng tại doanh nghiệp. Phúc lợi là phần thù lao gián tiếp đƣợc trả dƣới dạng hỗ trợ cuộc sống cho NLĐ.
Phúc lợi thƣờng đƣợc biểu hiện dƣới dạng nhƣ: bảo hiểm sức khỏe, BHXH, lƣơng hƣu, các chế độ thai sản, ốm đau, tiền trả cho ngày nghỉ Lễ, nghỉ Tết, các ngày nghỉ theo quy định của pháp luật [12]. Ngƣời lao động nhận đƣợc các khoản phúc lợi từ doanh nghiệp sẽ sử dụng nó để thoả mãn các nhu cầu vật chất nhƣng đồng thời họ cũng cảm thấy mình đƣợc doanh nghiệp quan tâm, cảm thấy họ là những ngƣời quan trọng đối với doanh nghiệp và họ sẽ nỗ lực hết mình vì doanh nghiệp. ạo động lực lao động thông qua thù lao tài chính Tạo động lực thông qua thù lao tài chính hay còn gọi là tạo động lực thông qua các khoản tiền lƣơng, tiền thƣởng và chế độ phúc lợi… chính là việc áp dụng các chính sách tiền lƣơng, tiền thƣởng và chế độ phúc lợi hợp lý để đảm bảo thu nhập cho NLĐ, giúp họ thỏa mãn không chỉ các nhu cầu cuộc sống vật chất thiết yếu nhƣ ăn, ở, mặc, nghỉ ngơi của chính họ mà còn giúp gia đình họ trang trải các chi phí khác trong cuộc sống. Theo đó, kích thích NLĐ nỗ lực phấn đấu hoàn thành các nhiệm vụ trong công việc với hiệu quả cao nhất, giúp đạt đƣợc lợi ích chung của doanh nghiệp.
Tạo động lực lao động thông qua thù lao tài chính là tạo ra các lợi ích kinh tế, tạo đòn bẩy kinh tế kích thích ngƣời lao động nỗ lực làm việc. Đó là những biện pháp và công cụ tạo động lực về mặt vật chất trong doanh nghiệp. Các học thu ết về tạo động lực 1.