phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục luận văn có kết cấu gồm 3 chương như sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao chất lƣợng viên chức tại đơn vị sự nghiệp công lập Chƣơng 2: Thực trạng nâng cao chất lƣợng viên chức tại Trung tâm Điều dƣỡng thƣơng binh Kim Bảng Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng viên chức tại Trung tâm Điều dƣỡng thƣơng binh Kim Bảng. 12 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG VIÊN CHỨC TẠI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP C NG LẬP 1. Một số khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm viên chức - Theo Điều 2, Luật Viên chức năm 2010 quy định về viên chức nhƣ: Viên chức là công dân Việt Nam đƣợc tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại ĐVSNCL thực hiện nhiệm vụ theo chế độ hợp đồng làm việc, hƣởng lƣơng từ qu lƣơng của các ĐVSNCL theo quy định của pháp luật. Từ những quy định trong văn bản pháp luật trên, ta có thể hiểu khái niệm về viên chức nhƣ sau: + Viên chức là những công dân Việt Nam qua quá trình tuyển dụng theo một quy trình nhất định để vào làm tại các vị trí việc làm cụ thể + Địa điểm công tác là làm việc trong các ĐVSNCL trực thuộc sự quản lý của Nhà nƣớc.
Viên chức đƣợc bổ nhiệm vào một chức danh nghề nghiệp, chức vụ quản lý. Viên chức là ngƣời thực hiện các công việc hoặc nhiệm vụ có yêu cầu về năng lực, k năng chuyên môn, nghiệp vụ trong các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc các lĩnh vực: giáo dục, đào tạo, y tế, khoa học, công nghệ, văn hóa, thể dục thể thao, du lịch, LĐTB&XH, thông tin truyền thông, tài nguyên môi trƣờng, dịch vụ. Viên chức gồm có: Viên chức quản lý, viên chức hành chính và viên chức chuyên môn. + Viên chức quản lý là ngƣời đƣợc bổ nhiệm giữ chức vụ quản lý có thời hạn, chịu trách nhiệm điều hành tổ chức thực hiện một hoặc một số công 13 việc trong ĐVSNCL nhƣng không phải là công chức và đƣợc hƣởng phụ cấp chức vụ quản lý.
+ Viên chức hành chính là ngƣời làm công việc hành chính tổng hợp. + Viên chức chuyên môn là ngƣời làm công việc theo chuyên môn + Chế độ hợp đồng làm việc của viên chức theo quy định mới nhất tại Điều 2 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều trong Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức đƣợc Quốc hội nƣớc CHXHCNVN ban hành năm 2019 (với nội dung sửa đổi, bổ sung Điều 25 trong Luật viên chức 2010), có hiệu lực thi hành từ 01/07/2020 là chế độ hợp đồng làm việc có xác định thời hạn. Đối với những viên chức đƣợc tuyển dụng trƣớc ngày 01 tháng 07 năm 2020 thì vẫn giữ nguyên chế độ hợp đồng làm việc không xác định thời hạn. + Chế độ lƣơng của viên chức đƣợc hƣởng là do ĐVSNCL trích từ qu lƣơng của họ để chi trả theo quy định chung của pháp luật.
Chất lượng viên chức Theo điều 3.1 của tiêu chuẩn ISO 9000:2005 định nghĩa chất lƣợng là: "Mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp có đặc tính vốn có". Chất lƣợng của viên chức trong đơn vị hành chính sự nghiệp thì viên chức là một phần của nhân lực khu vực công, là nguồn nhân lực của tổ chức. Nói đến chất lƣợng viên chức là nói đến chất lƣợng nguồn nhân lực trong tổ chức đó. Theo Nguyễn Tiệp (2010), “Chất lƣợng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực, là tố chất, bản chất bên trong của nguồn nhân lực, nó luôn có sự vận động và phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng nhƣ mức sống, dân trí của dân cƣ.” Chất lƣợng nguồn nhân lực thể hiện ở các mặt sau: - Sức khỏe; Trình độ văn hóa; Trình độ chuyên môn - k thuật; - Năng lực thực tế về tri thức, k năng nghề nghiệp; Tính năng động xã hội (khả năng sáng tạo, thích ứng, linh hoạt, nhanh nhạy với công việc; 14 - Phẩm chất đạo đức, tác phong, thái độ, môi trƣờng làm việc; - Hiệu quả hoạt động lao động của nguồn nhân lực; Thu nhập, mức sống và mức độ thỏa mãn nhu cầu cá nhân của ngƣời lao động.
Theo Trần Xuân Cầu (2012), “CLNNL thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực, đƣợc biểu hiện thông qua các tiêu thức: Sức khỏe; trình độ học vấn; trình độ chuyên môn/lành nghề…. CLNNL do trình độ phát triển kinh tế xã hội và chính sách đầu tƣ phát triển nguồn nhân lực của chính phủ quốc gia quyết định. Theo Mai Quốc Chánh (2000), “CLNNL đƣợc xem xét trên các mặt: trình độ sức khỏe, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, năng lực phẩm chất”. Theo Phan Thanh Tâm (2000), “CLNNL là tổng hòa của cả 3 yếu tố: Trí lực, thể lực và phẩm chất của ngƣời lao động”.
Với các cách tiếp cận khác nhau về CLNNL nói chung và chất lƣợng viên chức (nhân lực trong khu vực công) nói riêng, nhìn chung chất lƣợng viên chức là một khái niệm bao gồm trạng thái thể lực, trí lực, đạo đức và phẩm chất. Nó thể hiện trạng thái nhất định của một phần nhân lực khu vực công với tƣ cách vừa là một khách thể vật chất đặc biệt, vừa là chủ thể của mọi hoạt động kinh tế và các quan hệ xã hội mà cụ thể là trong ĐVSNCL. Nâng cao chất lượng viên chức Theo Từ điển “Từ và Ngữ Việt Nam” của Nguyễn Lân (2006), Nâng cao là “Làm cho tốt hơn lên”. Từ khái niệm trên có thể hiểu nâng cao chất lƣợng viên chức là làm tăng thêm hơn trƣớc về phẩm chất đạo đức, tƣ tƣởng chính trị, trình độ chuyên môn, k năng nghề nghiệp của họ nhằm đáp ứng yêu cầu của viên chức trong cơ quan hành chính nhà nƣớc hiện nay.
Nâng cao chất lƣợng viên chức là tổng thể các hình thức, phƣơng pháp, chính sách, biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lƣợng từng viên chức đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong 15 từng giai đoạn phát triển. Nâng cao chất lƣợng viên chức là yếu tố quan trọng trong việc hoàn thiện bản thân trong mỗi ngƣời viên chức. Bên cạnh thể lực, trí lực thì chất lƣợng nguồn nhân lực còn phản ánh tác phong, thái độ, ý thức làm việc của ngƣời viên chức. Việc nâng cao chất lƣợng viên chức sẽ góp phần làm tăng ý thức, trách nhiệm lao động, tăng năng suất lao động xã hội.
Nhƣ vậy, nâng cao chất lƣợng viên chức là việc hoàn thiện những điểm còn thiếu sót, chƣa hợp lý trong số lƣợng, cơ cấu lao động của viên chức. Đồng thời cải thiện những mặt còn yếu kém trong năng lực, phẩm chất của viên chức sao cho quy mô, tỷ trọng viên chức vừa đủ, tận dụng tối đa năng suất lao động, không thừa, không thiếu và trình độ của viên chức thì đáp ứng tốt yêu cầu của từng vị trí, kết hợp với đó là việc cải thiện môi trƣờng làm việc, đảm bảo cho sức khỏe, tinh thần của viên chức luôn đƣợc duy trì ở trạng thái tốt nhất, để họ có thể phục vụ hết mình vì công việc nhằm đạt đƣợc mục tiêu chung của tổ chức trong khu vực công. Đơn vị sự nghiệp công lập Theo khoản 1 Điều 9 Luật Viên chức 2010, ĐVSNCL chính là các tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nƣớc, tổ chức chính trị, chính trị xã hội thành lập theo quy định của pháp luật có tƣ cách pháp nhân, cung cấp các dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nƣớc trong các lĩnh vực nhƣ giáo dục, đào tạo, y tế, nghiên cứu khoa học, LĐTB&XH, thông tin truyền thông… và các lĩnh vực sự nghiệp khác đƣợc pháp luật quy định. Theo Khoản 2 Điều 9 Luật Viên chức 2010 quy định, ĐVSNCL gồm: - ĐVSNCL đƣợc giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (ĐVSNCL đƣợc giao quyền tự chủ).
- ĐVSNCL chƣa đƣợc giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự. Các tiêu chí đánh giá chất lƣợng viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập 1. Nâng cao thể lực của viên chức Thể lực là trạng thái sức khỏe của con ngƣời, là điều kiện đảm bảo cho con ngƣời phát triển, trƣởng thành một cách bình thƣờng, có thể đáp ứng đƣợc những đòi hỏi về sự hao phí sức lực, thần kinh, cơ bắp trong lao động. Sức mạnh trí tuệ của con ngƣời chỉ có thể phát huy đƣợc lợi thế trên nền thể lực khỏe mạnh.
Chăm sóc sức khỏe là một nhiệm vụ rất cơ bản để nâng cao chất lƣợng viên chức, tạo tiền đề phát huy có hiệu quả tiềm năng con ngƣời. Nâng cao thể lực bao gồm việc nâng cao sức khỏe, thể chất của nguồn nhân lực. Sức khỏe không chỉ biểu hiện chất lƣợng nguồn nhân lực mà còn ảnh hƣởng rất lớn đến chất lƣợng công việc. Sức khỏe này hàm chứa khỏe cả thể chất và tinh thần của nguồn nhân lực.
Thân thể khỏe mạnh, cƣờng tráng mới tiếp thu đƣợc kiến thức văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ tốt và lao động đạt hiệu quả cao. Nâng cao thể lực, sức khỏe là một vấn đề cần phải đƣợc coi trọng tại mỗi đơn vị, mỗi cơ quan, tổ chức. Việc nâng cao thể lực của viên chức là một yêu cầu cần thiết, bởi viên chức là đội ngũ lao động trí óc, thƣờng xuyên phải hoạt động trí óc rất mệt mỏi và dễ mắc những bệnh nghề nghiệp, ảnh hƣởng lớn tới sức khỏe và hiệu quả làm việc. Sức khỏe vừa là mục đích, điều kiện của sự phát triển nên yêu cầu bảo vệ và nâng cao thể lực của con ngƣời, đòi hỏi rất chính đáng mà xã hội phải đảm bảo.
Bên cạnh đó, ngay từ khâu tuyển dụng viên chức, tiêu chí sức khỏe cũng đƣợc quan tâm lƣu ý. Một ngƣời gặp khó khăn về thể lực, tinh thần khi phải đảm nhận công việc hoặc mắc một số bệnh tật khó có thể đƣợc tuyển dụng vào các cơ quan nhà nƣớc. 17 Nâng cao thể lực cho viên chức đƣợc biểu hiện ở việc nâng cao chất lƣợng môi trƣờng làm việc, an toàn trong khi làm việc và nâng cao chất lƣợng công tác chăm sóc sức khỏe cho viên chức, bao gồm các tiêu chí: Sức khỏe thể hiện sự dẻo dai về thể lực của nguồn nhân lực trong quá trình làm việc. Chất lƣợng nguồn nhân lực không chỉ đƣợc thể hiện qua trình độ hiểu biết của con ngƣời mà còn cả sức khỏe của bản thân ngƣời đó.