CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN, TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Đã có rất nhiêu dé tài nghiên cứu về quản lý vốn chủ sở hữu tại các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước. Mỗi đề tài có đối tượng và phạm vi nghiên cứu riêng, Tuy nhiên, việc nghiên cứu này ở mỗi thời kỳ khác nhau có đóng góp khác nhau và có ý nghĩa thực tiễn khác nhau. Có thê ké đến một số các công trình nghiên cứu sau: Đề tài: “Quản lý, sử dụng vốn tại Tổng công ty khoáng sản và thương mại Hà Tĩnh” Ký hiệu: LC 253 Tác giả: Nguyễn Văn Đức Chuyên ngành: Quản trị Kinh doanh Bảo vệ năm: 2007 Giáo viên hướng dẫn: TS.
Trần Anh Tài. Tuy nhiên, đề tài chỉ nhằm mục đích phân tích, đánh giá thực trang quan lý vốn và hiệu quả sử dung vốn ở tong công ty khoáng sản và thương mại Hà Tĩnh dé đề xuất các giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Đề tài: “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ở Tổng công ty xây dựng Thăng Long” Ký hiệu: LC 243 Tác giả: Lê Thế Anh Chuyên ngành: Quản trị Kinh doanh Bảo vệ năm: 2007 Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Đức Thảo. Cũng giống như đề tài trên, đề tài này chỉ tập trung vào một doanh nghiệp để phân tích thực trạng về sử dụng vốn từ đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ở Tổng công ty xây dựng Thăng Long.
Đề tài “Một số biện pháp quản trị và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty cô phần xây lắp bưu điện Hà Nội (HASISCO)” Ký hiệu: LC 517 Tác giả: Ngô Thu Yến Chuyên ngành: Kinh tế Chính trị Bảo vệ năm: 2010 Giáo viên hướng dẫn: TS. Nguyễn Thị Minh Tâm. Đề tài này cũng chỉ tập trung vào việc quản lý và sử dụng vốn lưu động tại một công ty. Trần Xuân Long (2012) “Hoàn thiện chính sách quản lý vốn trong doanh nghiệp nhà nước sau khi cổ phần hóa” Luận án Tiến sĩ học viện tai chính.
Nguyễn Thị Thu Hương (2009) “Quản lý vốn nhà nước tại các Doanh nghiệp sau khi cổ phan hóa doanh nghiệp nhà nước” Luận án Tiên sĩ học viện tài chính. Các công 7 trình nghiên cứu này tập trung vào quản lý vốn nhà nước tại các doanh nghiệp sau khi cổ phan hóa. Các tác giả chưa nghiên cứu quan lý vốn tại các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước. Đồng thời tất cả các đề tài trên mới chỉ tập trung vào xử lý những vấn đề cụ thé của các công ty cụ thé mà chưa có cái nhìn tổng quát về tình hình quản lý vốn của nhà nước đối với doanh nghiệp 100% vốn nhà nước.
Cơ sở lý luận và thực tiễn về doanh nghiệp 100% vốn nhà nước 1. Khải niệm Quản lý được định nghĩa là một công việc mà một người lãnh đạo học suốt đời không thấy chán và cũng là sự khởi đầu của những gì họ nghiên cứu. Quản lý được giải thích như là nhiệm vụ của một nhà lãnh đạo thực thụ, nhưng không phải là sự khởi đầu dé họ triển khai công việc. Như vậy, có bao nhiêu nhà lãnh đạo tài ba thì có bấy nhiêu kiểu định nghĩa và giải thích về quản lý.
Mỗi khái niệm quản lý của mỗi người sẽ có những tư tưởng, kinh nghiệm, kiến thức của cá nhân trong đó. Tuy nhiên van có một khái niệm chung nhất dé hiểu quan lý là gì. Xét trên phương diện nghĩa của từ, quan lý thường được hiểu là chủ trì hay phụ trách một công việc nào đó. Bản thân khái niệm quản lý có tính đa nghĩa nên có sự khác biệt giữa nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Hơn nữa, do sự khác biệt về thời đại, xã hội, chế độ, nghề nghiệp nên quản lý cũng có nhiều giải thích, lý giải khác nhau. Cùng với sự phát triển của phương thức xã hội hoá sản xuất và sự mở rộng trong nhận thức của con người thì sự khác biệt về nhận thức và lý giải khái niệm quản lý càng trở nên rõ rệt. Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về quản lý. Cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý.
Đặc biệt là ké từ thế kỷ 21, các quan niệm về quản lý lại càng phong phú. Các trường phái quản lý học đã đưa ra những định nghĩa về quản lý như sau: - Tailor: "Làm quản lý là bạn phải biết rõ: muốn người khác làm việc gì và hãy chú ý đến cách tốt nhất, kinh tế nhất mà họ làm". Với định nghĩa này Tailor chỉ 8 tập trung vào việc chỉ đạo, điều hành và lay lợi ích kinh tế tối đa dé kiểm soát người khác làm việc. - Fayel: "Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chi đạo, điều chỉnh và kiểm soát.
Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tô chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy”. Fayel thì lại tập trung vào việc xây dựng và thực hiện các kế hoạch. Thông qua các phương pháp thực hiện kế hoạch mà có thể tổ chức quản lý. - Hard Koont: "Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp con người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định".
Như vậy, với quan điểm này việc xây dựng và duy trì môi trường tốt cho người thực hiện nhiện nhiệm vụ lại quan trọng mà không quan trọng mục tiêu đặt ra khi quản lý. Druker: "Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn. Bản chất của nó không năm ở nhận thức mà là ở hành động; kiểm chứng nó không nằm ở sự logic mà ở thành quả; quyền uy duy nhất của nó là thành tích". Với quan điểm này thì Peter F Drunker quá tập trung vào kết quả mà không quan tâm đến tiến trình và phương pháp thực hiện đề đạt được kết quả đó.
Dalark: "Định nghĩa quản lý phải được giới hạn bởi môi trường bên ngoài nó. Theo đó, quản lý bao gồm 3 chức năng chính là: Quản lý doanh nghiệp, quản lý giám đốc, quản lý công việc và nhân công". Khái niệm quản lý này lại quá tập trung vào môi trường bên trong của hoạt động quả lý. Do đó, khó có tính linh hoạt và dé bị ảnh hưởng bởi môi trường bên ngoài.
Chủ trương của Peter. Dalark là giới hạn doanh nghiệp từ góc độ xã hội, lay quản lý làm chức năng chính của doanh nghiệp. Vi thế, quản lý trở thành chức năng và vai trò của tô chức xã hội, nó cũng sẽ thông qua các doanh nghiệp góp phần xây dụng chế độ xã hội mới để đạt được mục tiêu lý tưởng là "một xã hội tự do và phát triển". Nếu không có quản lý hiệu quả thì doanh nghiệp không thể tồn tại và từ đó không thể xây dựng một xã hội tự do và phát triển.
Với khái niệm này thì việc quản lý lại quá tập trung vào môi trường bên ngoài, không quan tâm, không dé ý đên nội bộ của đôi tượng quản lý. Có chuyên gia cho rằng “Quản lý là quá trình thực hiện các tác động của chủ thê quản lý lên đối tượng quan ly dé phối hợp hoạt động của các cá nhân và tập thể nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra của tổ chức”. Với khái niệm này quản lý chỉ thấy được về mặt hình thức mà không đi vào thực chất, đi vào nội dung của khái niệm. Tóm lại, quản lý là quan niệm chứ không phải kỹ thuật, là tự do chứ không phải bị khống chế, là nhiệm vụ thực tế chứ không phải lý luận; là thành tích chứ không phải tiềm năng, là trách nhiệm chứ không phải quyền lực; là cống hiến chứ không phải thăng tiến; là cơ hội chứ không phải chướng ngại; là đơn giản chứ không phải phức tạp; là tác động của môi trường trong và ngoài đối tượng quản lý chứ không phải là duy nhất; là kết quả chứ không phải là kế hoạch; là hiệu quả chứ không phải tồn tại.
Có thé kế ra nhiều ý kiến khác nhau về định nghĩa quản lý, trên đây chỉ là một vài ý kiến mang tính đại diện trên cơ sở phân tích tổng hợp những quan điểm không giống nhau. Tóm lại, những quan điểm đó tuy rất rõ ràng, đúng đắn, nhưng chưa đầy đủ. Chúng chỉ chú trọng đến quản lý như là một hiện tượng chứ chưa làm bộc lộ rõ bản chất của nó. Như vậy, quản lý là gì? Như chúng ta đều biết, hoạt động quản lý thực chất cũng là một hành vi, đã là hành vi thì phải có người thực hiện và người chịu tác động.
Tiếp theo cần có mục đích của hành vi, đặt ra câu hỏi tại sao làm như vậy? Do đó, dé hình thành nên hoạt động quản lý trước tiên cần có chủ thé quản lý: nói rõ ai là người quản lý? Sau đó cần xác định đối tượng quản lý: quản lý cái gì? Cuối cùng cần xác định mục đích quản lý: quản lý vì cái gì? Có được 3 yếu tố đó là điều kiện cơ bản để hình thành nên hoạt động quản lý. Đồng thời cần chú ý rằng, bat cứ hoạt động quản lý nào cũng không phải là hoạt động độc lập, nó cần được tiễn hành trong môi trường, điều kiện nhất định nào đó mà không tách rời, xa cách. Tóm lại: Quản lý là nghệ thuật hoàn thành các mục tiêu công việc thông qua người khác; là quá trình lập kế hoạch, tô chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các chủ thé bị quản lý, sử dụng các nguồn lực sẵn có thông qua phối hợp, kiểm soát môi 10 trường xung quanh dé đạt được các mục tiêu của tổ chức. Như vậy chức năng cơ bản của quản lý là: Lập kế hoạch, tô chức, lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp và kiểm tra.
Các yếu tô của quản lý Với những phân tích trên mọi hoạt động quản lý đều phải do 4 yếu tố cơ bản sau cau thành: - Chủ thé quản lý, trả lời câu hỏi: do ai quản lý? - Khách thể quản lý, trả lời câu hỏi: quản lý cái gì? - Mục đích quan ly, trả lời câu hỏi: quản lý vì cái gi? - Môi trường và điều kiện tô chức, trả lời câu hỏi: quản lý trong hoàn cảnh nào? Vi bản thân hành vi quan ly là do 4 yếu tổ trên tạo thành, do vậy 4 yếu tố đó đương nhiên cần được thể hiện trong định nghĩa về quản lý.