Chương 1. Cơ sở lý luận về lập báo cáo tài chính trong các doanh nghiệp. Thiết kế nghiên cứu tình hình lập báo cáo tài chính theo. chuẩn mực kế toán ở các công ty cổ phần trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
Kết quả nghiên cứu và kiến nghị về lập báo cáo tài chính theo. chuẩn mực kế toán ở các công ty cổ phần trên địa bản thành phố Da Nẵng. “Tổng quan tài liệu nghiên cứu. Luan van *Viận đụng và hoàn thiện CMKT BCTC tại Việt Nam” của Đào Thị Kim Yến (2004), Đại học Kinh tế Tp.
Tac gia Yén (2004) trong bối cảnh Bộ Tài chính ban hành 16 CMKT đã tìm hiễu thực trang vận dụng CMKT về BCTC áp dụng tại các DN Việt Nam. và đã đưa ra một số ý kiến giúp việc vận dụng CMKT về BCTC được tốt hơn cũng như phương hướng hoàn thiện hệ thống BCTC. Bằng cách khảo sát BCTC được lập năm 2003 của 3 DN kinh doanh trong các lĩnh vực khác nhau (Công ty đường Khánh Hoà, Công ty chế biến thuỷ sản xuất khẩu Nha Trang, Công ty cổ phần giấy Linh Xuân) và nghiên cứu 16 CMKT ban hành vào thời điểm nghiên cứu, Yến (2004) đã nêu ra những hạn chế trong việc vận dụng. CMKT về BCTC như hệ thống BCTC quy định chưa thật sự thích hợp với tính đa dạng của các loại hình DN trong nền kinh tế thị trường (cụ thể là đối với mô hình tổng công ty và công ty cỗ phần).
Yến (2004) cũng chỉ ra rằng. BCKQHĐKD theo quy định của Việt Nam được lập theo chức năng của chỉ phí, điều này chưa linh hoạt vì nền kinh tế nước ta gồm nhiều loại hình DN. với quy mô khác nhau nên có những DN có quy mô nhỏ thì không cần thiết phải lập báo cáo kết quả kinh doanh theo phương pháp này, đối với BCLCTT. chưa phải là loại báo cáo bắt buộc nên vấn để soạn thảo và trình bày các thông tìn trên loại báo cáo này chưa được nhiều DN quan tâm.
Ngoài ra tác giả còn nhắn mạnh BCTC tại Việt Nam chưa thích ứng trong điều kiện nền. kinh tế lạm phát, Nguyên tắc trình bày các tài sản theo giá gốc (hay giá phí lịch sử) trong BCTC tỏ ra không phù hợp với các nhu cầu sử dụng thông tin kế toán để đưa ra các quyết định trong kinh doanh và nhu cầu thể hiện các tài sản trong điều kiện nền kinh tế lạm phát. Mặc dù đã có một số quy định cho. phép DN thực hiện đánh giá lại tài sản để đảm bảo giá trị thực tế của tải sản nhưng trong chế độ kế toán hiện nay chưa có quy định rõ ràng cho kế toán về biến động giá cả.
Phần cuối của công trình nghiên cứu, Yến (2004) đã đưa ra một loạt những biện pháp van dung va hoàn thiện CMKT về BCTC tại Việt Nam 'Những biện pháp vận dụng CMKT về BCTC được nêu ra ở tầm vĩ mô và vi mô khá chỉ 'Bên cạnh đó, những vấn đẻ cần hoàn thiện CMKT trình bày. BCTC, chẳng hạn đối với Chuẩn mực chung (VAS 01), tác giả đã đề nghị bổ sung vào chuẩn mực chung định nghĩa BCTC và đối tượng sử dụng của BCTC, định nghĩa lại một vài khái niệm quan trọng khác trong kế toán. Liên quan đến Chuẩn mực trình bay BCTC (VAS 21), Yến (2004) đề xuất sửa đổi bổ sung nhiều chỉ tiêu trên từng BCTC của DN và cuối cùng là đề xuất việc. bổ sung chuẩn mực "BCTC trong nền kinh tế siêu lạm phát” tại Việt Nam.
Do bối cảnh của nghiên cứu ra đời vào năm 2004 khi Bộ Tài chính mới ban hành 16 CMKT nên một vài kết luận và đề tất giải pháp của Yến (2004) đã không còn tính cập nhật. ài “Nghiên cứu tình hình lập BCTC theo CMKT ở các công ty cổ phân trên địa bàn thành pho Đà Nẵng” sẽ tiếp tục triển khai nghiên cứu sự vận dụng CMKT về BCTC tại Việt Nam trong tình hình hệ thống CMKT đã được ban hành đầy đủ hơn. Bai bio “Hé thing CMKT Viét Nam: Những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện” của Doàn Xuân Tiên (2008) Đúc kết kinh nghiệm nhiều năm công tác trong lĩnh vực kế toán, tác giả Tiên (2008) đã cung cấp một cái nhìn khái quát về hệ thống CMKT Việt Nam, đặc biệt là về khả năng thực thi của CMKT trong thực tiễn. Tiên (2008) a chi ra những điểm thuận lợi, những vướng mắc khó khăn trong thực tế vận dụng CMKT như quá nhiều thuật ngữ trong chuẩn mực chưa thống nhất, và thói quen chờ đợi sự hướng dẫn cụ thể của Bộ Tài chính dé vận dụng đã tồn tai trong một bộ phận không nhỏ những người làm công tác kể toán.
Tác giả đã nêu ra 5 ý kiến nhằm hoàn thiện hệ thống CMKT tai Viét Nam. chỉnh sửa bỗ sung những điểm còn chưa thống nhất giữa các chuẩn mực và cập nhật những thay đổi mới nhất trong nội dung của các chuẩn mực lập và. trình bảy BCTC hiện nay. Hai 14, tap trung vào việc tổng kết đánh giá hiệu {qua cia quá trình soạn thảo các chuẩn mực đã ban hành nhằm rút ra những kinh nghiệm bổ ích cho các lần ban hành sau.
Ba đà, phát triển đội ngũ những người làm kế toán được trang bị đầy đủ cả về chuyên môn nghiệp vụ và đạo. đức nghề nghiệp nhằm đạt được sự công nhận của khu vực và quốc tế, đưa hệ thống CMKT vào thực tiễn một cách nhanh chong. Bén ld, tiép tue nghién cứu một số CMKT quốc tế để ban hành một số chuẩn mực mà Việt Nam chưa có. Năm là, nâng cao vai trò của hội nghề nghiệp kế toán, kiểm toán Đề tài “ANghiến cứu tình hình lập BCTC theo CMKT ở các công ty cổ phân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng ” sẽ tiếp thu những nhìn nhận nêu trên của tác giả nhưng ở khía cạnh hẹp là lập BCTC theo CMKT có những thuận lợi và vướng ắc, khó khăn gì.
Bài báo khoa học “Bản vẻ mô hình các nhân tổ ảnh hưởng đến vận dụng chế độ kế toán trong các DN vừa và nhỏ” của Trần Khôi Nguyên (2010), Tạp chí khoa học và công nghệ Đại học Đà Nẵng, 5(40). Tổng kết các nghiên cứu của các nước về các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng CMKT quốc tế, và trao đổi với các chuyên gia kế toán, kiểm. toán có nhiều năm kinh nghiệm để lựa chọn các nhân tố phù hợp với Việt Nam, đồng thời tiến hành điều. tra thông qua bảng câu hỏi (với đối tượng là các kế toán viên ở các DN và các cán bộ quản lý thuế) đề xem xét có thêm.
các chứng cớ chắc chắn, tác giả Nguyên (2010) đã xây dựng mô hình dự tinh về các nhân tố ảnh hưởng đến vận dụng chế độ kế toán trong các DN vừa và nhỏ gồm các nhân tố Tĩnh phức tap cửa “4S (kết quả thu thập nhiều ý kiến cho rằng nội dung các chuẩn mực còn quá mới mẻ với quá nhiều khái niệm, thuật ngữ), nhân tổ thứ hai là Tính độc lập vẻ nghề nghiệp (đặc trưng của hệ thống pháp luật tại Việt Nam ảnh hưởng tới thực hành kế toán, nghiên cứu đã cho thấy việc thực hành kế toán hầu như chỉ dựa trên hệ thống các thông tư. hướng dẫn), nhân tố thứ ba là Trinh độ của kể toán viên (ảnh hưởng đến khả năng lựa chọn các kỹ thuật, các chính sách kế toán phủ hợp để tối đa hoá lợi ích của DN khi vận dụng chuẩn mực), nhân tổ thứ tư là Kiểm tra, kiểm toán q BCTC của một DN được kiểm toán thì mức độ tuân thủ và vận dụng các 'CMKT sẽ cao hơn những DN không yêu cầu bắt buộc kiểm toán), nhân tổ thứ năm là Ảnh hướng của thuế đối với công tác kế toán (đặc điêm liên kết chặt chẽ giữa kế toán và thuế tại Việt Nam, đo lường và ghi nhận kế toán dựa trên qui định của thuế), nhân tố thứ sáu là Nhận thức của chú DN (nhiều chủ DN chưa thật sự quan tâm đến vai trò quản lý của kế toán), nhân tổ thứ bảy là Qui mô của DN (các DN có qui mô lớn thường hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau, mức độ phức tạp của các nghiệp vụ kinh tế rất cao và có đủ nguồn lực tài chính do vậy việc vận dụng các CMKT sẽ đẩy đủ hơn các DN nhỏ), nhân tổ thứ tám là Khả năng sinh lởi (thông qua nhân tố này để xem xét hành vi của người kế toán), nhân tố cuối cùng được tác giả đưa ra là Lợi ích của việc vận dụng chuẩn mực. Nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc đề xuất mô hình, Nguyên (2010) chỉ ra rằng cằn tiến hành đo lường các biển và sử dụng mô hình phù hợp để xem xét mối quan hệ tác động đối với việc vận dụng VAS. Kế thừa kết quả nghiên cứu của bài báo khoa học trên, đề tài “Nghiên cứu tình hình lập BCTC theo CMKT ở các công ty cé phan trén địa bản thành phố Đà Nẵng" sẽ lập luận để chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến sự vận dụng.
'CMKT tại các công ty cỗ phần với một vải đặc th riêng khác với các DN vừa và nhỏ trong công trình nghiên cứu của Nguyên (2010),. Luận văn "Công tác lập BCTC của các DN vừa và nhỏ: khảo sắt trên địa bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng", Nguyễn Thị Lệ Hằng (2011), Đại học Kinh tế Đà Nẵng Tác giả Hằng (2011), dựa vào các nghiên cứu của Lavigne (2002), Sơn va Neil Marriott, Pru Marriot (2005), tiến hành đánh giá các nhân tô ảnh hưởng đến công tác lập BCTC của các DN vừa và nhỏ, đồng thời sử dụng phương pháp điều tra thông qua bảng câu hỏi để phân tích thực trạng. Nghiên cứu không đi sâu vào chuyên môn nghiệp vụ kế toán mà tập trung vào công tác tổ chức toán, việc cung cấp thông tin kế toán và quan điểm của nhà quản trị trong việc lập BCTC. Kết quả nghiên cứu của Hằng (2011) đã cho thấy công tác lập BCTC tại các DN vừa và nhỏ chưa được đảm bảo về chất lượng.
Đặc thù kế toán thuê ngoài đã dẫn đến thông tin cung cấp trên BCTC không đầy đủ và trung thực. Yếu tố quản trị bởi các thành viên trong gia đình cũng tác động đến mục tiêu lập BCTC (trong đó mục tiêu tối thiểu hoá chỉ phí thuế luôn được đặt lên hàng đầu). Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nhận thức của. nhà quản trị trong công tác lập BCTC chỉ mang tính đối phó, bắt buộc theo.
thủ tục chứ chưa thật sự sử dụng kế toán như một công cụ quản lý.