Chương 1: Tổng quan - giới thiệu đề tài Chương 2: Tổng quan cơ sở lý thuyết Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Lựa chọn chỉ số tính toán năng suất Chương 5: Đánh giá năng suất Nhà máy Hóa chất Tân Bình 2 giai đoạn 2010-2012 Chương 6: Kết luận 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Các nghiên cứu trước đây liên quan đến đề tài Trên thế giới: Vấn đề năng suất đã được nghiên cứu từ rất lâu trên thế giới. Năng suất theo cách tiếp cận mới đã được nhiều nước trên thế giới nghiên cứu và áp dụng. Đo lường năng suất thông qua các hình thức biểu hiện của năng suất và các chỉ tiêu năng suất cũng đã và đang có những cải tiến, phát triển rất mạnh mẽ. Từ việc đo lường năng suất bộ phận thông qua các chỉ tiêu lao động, giờ công, vốn, máy móc…cho đến các chỉ tiêu có tính tổng hợp chung như năng suất tổng hợp của vốn và lao động, năng suất các yếu tố vô hình, cách thức hoạch định ngân sách để quản lý năng suất.
Tổ chức Năng suất châu Á (APO) cùng với các Tổ chức Năng suất quốc gia (NPOs) đã có nhiều nỗ lực trong việc thúc đẩy các hoạt động cải tiến năng suất, trong đó có việc nghiên cứu, giới thiệu các phương pháp đo lường, cải tiến năng suất chất lượng. Một trong số đó là phương pháp đo lường năng suất tổng hợp và phương pháp Rapmods do tác giả M.Ramsay giới thiệu tại TP. Đồng thời các báo cáo thường niên về năng suất của tổ chức APO còn là cơ sở dữ liệu quan trọng khi tiến hành so sánh đánh giá năng suất Nhà máy với các nước trong khu vực. Ở Việt Nam, từ năm 1996, nước ta gia nhập tổ chức Năng suất Châu Á (APO) và mở rộng quan hệ hợp tác quốc được mở rộng, đặc biệt là gia nhập khối ASEAN thì việc nghiên cứu chỉ tiêu năng suất bắt đầu đặt ra để vận dụng khái niệm và hệ thống chỉ tiêu đặc trưng về năng suất theo cách tiếp cận mới mà hầu hết các nước đang phát triển đã áp dụng để có thể tự đánh giá chính xác, so sánh được với các nước khác trên thế giới.
Với sự hướng dẫn trực tiếp của các chuyên gia thuộc tổ chức APO, Tổng cục thống kê cùng Tổng cục đo lường chất lượng Việt Nam đã thực hiện nghiên cứu Đề tài cấp nhà nước “Năng suất theo cách tiếp cận mới”. Trên cơ sở đó, nghiên cứu tiếp theo đã được thực hiện “Tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp - phương pháp tính và ứng dụng” (Tăng Văn Khiên, 2005). Trong nghiên cứu này tác giả đã góp phần làm rõ bản chất của năng suất các nhân tố tổng hợp cũng như quan hệ TFP với các chỉ tiêu năng suất khác, xác định yêu cầu đảm bảo 6 nguồn số liệu cũng như khả năng tính toán tốc độ tăng các nhân tố tổng hợp ở các cấp độ khác nhau của Việt Nam. Đồng thời hướng dẫn tính toán năng suất tổng hợp ở cấp độ quốc gia và ngành công nghiệp.
Tiếp theo đó là nghiên cứu “Xây dựng và áp dụng phương pháp đo lường năng suất tại một số doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ trên địa bàn TP HCM” (Trịnh Minh Tâm, 2009). Trong nghiên cứu này tác giả đã xây dựng đồng thời hệ thống phương pháp đo lường năng suất tổng hợp và phương pháp Rapmods để đo lường năng suất ở cấp độ doanh nghiệp. Ngoài ra các báo cáo năng suất Việt Nam “Báo cáo nghiên cứu các chỉ tiêu năng suất Việt Nam giai đoạn 2001-2005”, “Báo cáo năng suất Việt Nam 2010” của Trung tâm năng suất Việt Nam cũng là một nguồn tài liệu quan trọng để thực hiện đề tài này. Trên đây là những cơ sở lý thuyết để thực hiện đề tài này.2 Lý thuyết năng suất 1.1 Khái niệm năng suất Thuật ngữ “năng suất” được nhà kinh tế học Adam Smith (1723-1790) đưa ra vào năm 1766.
Năng suất trong giai đoạn đầu này được hiểu là năng suất lao động hay hiệu suất sử dụng nguồn lực (lao động, vốn, năng lượng, nguyên vật liệu). Theo khái niệm này năng suất có nghĩa là sản xuất “nhiều hơn” với “chi phí thấp hơn”. Tuy nhiên, quan điểm năng suất như vậy chỉ dừng lại ở năng suất nguồn lực và đó chỉ là một khía cạnh của năng suất. Một dự án nghiên cứu về các khái niệm năng suất do các nước thành viên Tổ chức năng suất Châu Á thực hiện 1995 đã nêu rõ khái nhiệm năng suất theo cách tiếp cận mới một các chung nhất: 1.
Nhấn mạnh vào việc giảm lãng phí trong mọi hình thức. Năng suất là làm việc thông minh hơn chứ không phải vất vả hơn. Nguồn nhân lực và khả năng tư duy con người đóng góp vai trò quan trọng nhất trong việc đạt được năng suất cao hơn và hành động là kết quả quá trình tư duy. Tăng năng suất đồng nghĩa với sự đổi mới và cải tiến liên tục.
Năng suất được coi là biểu hiện của hiểu quả và hiệu lực trong việc sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu. Năng suất theo các tiếp cận mới là năng suất đi đôi với việc bảo vệ môi trường. Hiểu một cách đơn giản năng suất là thước đo lượng đầu ra được tạo ra dựa trên các yếu tố đầu vào (Văn Tình, Lê Hoa, 2003). Quan hệ giữa đầu ra và đầu vào chính là năng suất và được biểu thị bằng công thức: Ñaà u ra Naê ng suaá t Ñaà u vaø o Đầu ra được tính bằng tổng giá trị sản xuất kinh doanh hoặc giá trị gia tăng hoặc khối lượng hàng hóa tính bằng đơn vị hiện vật.
Ở cấp độ vĩ mô thường sử dụng tổng sản phẩm trong nước (GDP) là đầu ra để tính năng suất. Ở cấp độ doanh nghiệp sử dụng giá trị gia tăng của hoạt động sản xuất kinh doanh để tính. Đầu vào được tính bao gồm các yếu tố tham gia để sản xuất ra đầu ra như lao động, nguyên vật liệu, vốn, thiết bị máy móc, năng lượng, kỹ năng quản lý… Năng suất còn được hiểu là một tư duy hướng tới thói quen cải tiến và vận dụng những cách thức để biến mong muốn thành các hành động cụ thể. Theo các tiếp cận này, năng suất là không ngừng cải tiến để vươn tới sự tốt đẹp hơn.
Ngày hôm nay phải tốt hơn ngày hôm qua và ngày mai sẽ tốt hơn ngày hôm nay. Điều này có thể thực hiện được nhờ các nỗ lực cá nhân và tập thể không ngừng nâng cao kiến thức, kỹ năng, kỹ luật, các hoạt động phát huy tinh thần sáng tạo cũng như việc quản lý công việc tốt hơn, phương pháp làm việc tốt hơn, giảm thiểu chi phí, giao hàng đúng hạn, hệ thống và công nghệ tốt hơn để đạt được sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao. (Trung tâm năng xuất Việt Nam, Báo cáo năng suất Việt Nam 2010) Sự khác nhau căn bản giữa năng suất theo cách tiếp cận mới so với năng suất hiểu theo nghĩa truyền thống chính là năng suất theo cách tiếp cận mới quan tâm nhiều hơn tới các kết quả đầu ra chứ không chỉ quan tâm đến hiệu quả sử dụng đầu vào. Năng suất và chất lượng phải đi đôi với nhau chứ không còn là sự bù trừ lẫn nhau để tạo nên hiểu quả chung.
Bởi vì có duy trì chất lượng mới thỏa mãn được nhu cầu khách 8 hàng và xã hội. Năng suất trong giai đoạn mới bao hàm cả ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn về xã hội với khái niệm năng xuất xã hội. Và đã là năng xuất thì phải là năng xuất xanh tức là năng suất cao nhưng không hủy hoại tài nguyên thiên nhiên. Năng suất được đặc trưng bởi 6 yếu tố: Nhanh (dilivery timing), nhiều (production capacity), tốt (quality), rẻ (cost), an toàn (safety), đạo đức và tinh thần làm việc (morale).2 Đo lường năng suất Đo lường năng suất là việc so sánh giữa đầu ra và đầu vào.
Tùy theo mục đích phân tích đánh giá và khả năng thu thập các dữ liệu cần thiết mà lựa chọn các chỉ tiêu đầu ra và đầu vào tương ứng. Các chỉ tiêu năng suất được phân thành 3 cấp: cấp quốc gia, cấp ngành, cấp doanh nghiệp. Trong đề tài này tác giả sẽ xét năng suất ở cấp độ doanh nghiệp, đó là tổ chức “Nhà máy Hóa chất Tân Bình 2”, bao gồm các chỉ số định tính và định lượng. Dưới đây là các chỉ số định lượng ở cấp độ doanh nghiệp Bảng 2.1 Các chỉ số định lượng đánh giá năng suất doanh nghiệp Stt Tỉ số Ý nghĩa 1.
Chỉ số cạnh tranh về chi phí lao động 1.1 % VA/LC Tỉ số này thể hiện khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp về VA chi phí lao động. Nó phản ánh một đồng chi phí cho lao động *100 LC sẽ tạo ra được bao nhiêu giá trị gia tăng.2 % LC/LT Tỉ số này đánh giá mức tiền công trung bình cho 1 lao động. LC Chỉ tiêu này phản ánh chế độ ưu đãi của doanh nghiệp đối với *100 LT lao động, chất lượng lao động có tay nghề cao.3 % LC/TI Tỉ số này thể hiện phần chi phí lao động chiếm tỷ trọng trong LC tổng đầu ra. TI 9 Stt Tỉ số Ý nghĩa 1.4 % LC/TO LC Tỉ số này thể hiện tỷ lệ chi phí lao động trong tổng đầu vào.
Nhóm chỉ tiêu về năng suất lao động 2.1 VA/LT Phản ánh lượng của cải vật chất do công ty tạo ra từ số lượng VA người lao động trong công ty. Tỷ số này chịu ảnh hưởng bởi LT hiệu quả quản lý, thái độ làm việc, giá cả thị trường, nhu cầu về sản phẩm.2 TO/LT Phản ánh lượng đầu ra trên mỗi lao động. Tuy nhiên để đánh TO giá đúng chỉ tiêu này cần xem xét đến một số yếu tố khác như LT giá nguyên vật liệu, lượng hàng tồn kho trong tổng đầu ra 3. Chỉ tiêu năng suất và cường độ vốn 3.1 VA/FA Tỷ số này thể hiện một đồng vốn đầu tư vào tài sản cố định sẽ VA có khả năng đem lại bao nhiêu giá trị gia tăng, nó phản ánh FA hiệu quả sử dụng tài sản cố định hữu hình.2 TO/TCA Chỉ ra hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của công ty.
Một đồng vốn TO đầu tư bỏ ra sẽ thu được bao nhiêu đồng đầu ra TCA 3.3 TO/FA Tỷ số này chỉ ra mức độ hiệu quả của việc sử dụng vốn cố TO định. Chủ yếu phụ thuộc vào khả năng tiêu thụ sản phẩm trên FA thị trường để có thể quay vòng vốn được nhanh chóng.4 TO/CA Chỉ ra hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp.