LỜI MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của đề tài Thất thu thuế xuất nhập khẩu không những chỉ ảnh hưởng đến nguồn thu của ngân sách nhà nước mà còn là vấn đề đạo đức xã hội ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường kinh doanh, tình hình kinh tế - xã hội của đất nước. Gian lận dẫn đến thất thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu chủ yếu xuất phát từ các hành vi khai sai hoặc không khai về tên hàng, đơn giá, trị giá, số lượng, chủng loại, chất lượng, thuế suất, mã số hàng hoá, khai thấp trị giá tính thuế hoặc chưa nắm rõ các chính sách ưu đãi về đầu tư, quy định xuất xứ hàng hóa xuất nhập khẩu dẫn đến khai sai tiền thuế phải nộp…. Một trong những nguyên nhân dẫn đến thất thu thuế xuất nhập khẩu là gian lận khai sai mã số hàng hóa xuất nhập khẩu vì phân loại áp mã hàng liên quan trực tiếp đến áp mức thuế suất và tính số tiền thuế phải nộp vào ngân sách nhà nước.
Cục Hải quan tỉnh Long An là đơn vị được giao nhiệm vụ quản lý Nhà nước về Hải quan trên địa bàn 03 tỉnh: Long An, Tiền Giang, Bến Tre. Năm 2015, đơn vị được Tổng cục Hải quan giao dự toán thu nộp Ngân sách là: 1.850 tỷ đồng tăng 10.1% so với chỉ tiêu được giao năm 2014; Chỉ tiêu thu nộp ngân sách năm 2016 là 2.180 tỷ đồng, tăng 15.3% so với chỉ tiêu được giao năm 2015; Chỉ tiêu thu nộp ngân sách năm 2017 là 2.255 tỷ đồng tăng 3.44% so với chỉ tiêu được giao năm 2016. Chỉ tiêu thu Ngân sách được giao năm sau luôn cao hơn năm trước, trong khi đó thì lộ trình hội nhập và cam kết khi nước ta gia nhập các tổ chức thương mại và Hiệp ước quốc tế thì chính sách thuế buộc phải cắt giảm hàng năm việc hoàn thành chỉ tiêu thu Ngân sách là rất khó khăn. Mặt khác, xu hướng khối lượng công việc tăng lên hàng năm trong điều kiện về nguồn lực tại đơn vị có hạn thì việc nghiên cứu các giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động trong quản lý thu thuế xuất nhập khẩu là vấn đề luôn luôn được quan tâm.
Từ thực tế trên nên tác giả đã chọn đề tài “Quản lý thu thuế xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Long An” để làm luận văn nghiên cứu của mình. Mục tiêu nghiên cứu 2.1 Mục ti u chung: Nghiên cứu thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Long An.2 Mục ti u cụ th : Tổng hợp hệ thống hóa lý luận liên quan quản lý thu thuế xuất nhập khẩu và hiệu quả quản lý thu thuế xuất nhập khẩu; phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả quản lý thu thuế xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Long An giai đoạn 2015-2018, nêu lên những kết quả đạt được, tồn tại và nguyên nhân. Đề xuất những giải pháp cho việc nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế XNK tại đơn vị. Đối tƣợng nghiên cứu: Quản lý thu thuế xuất nhập khẩu trong lĩnh vực Hải quan và thực tiễn hiệu quả quản lý thu thuế xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan Long An.
Phạm vi nghiên cứu 4.1 Phạm vi về không gian địa đi m: Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu có liên quan đến công tác quản lý thu thuế xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Long An.2 Phạm vi về thời gian: Số liệu sử dụng trong đề tài năm 2015 - 2018 5. Câu hỏi nghiên cứu - Thực trạng hiệu quả quản lý thu thuế xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Long An giai đoạn 2015-2018 như thế nào? - Cần có giải pháp gì để nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh Long An? 6. Phƣơng pháp nghiên cứu Phương pháp định tính, cụ thể là: thu thập, tổng hợp số liệu, điều tra khảo sát thực tế phân tích, thống kê và ứng dụng thực tiễn để nghiên cứu về lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp. Phương pháp tổng hợp, đối chiếu, so sánh các số liệu phát sinh tại Cục Hải quan tỉnh Long An.
Phương pháp nghiên cứu dữ liệu thứ cấp (thu thập thông tin từ các website, số liệu thống kê của đơn vị, sách báo, tạp chí. TỔNG QUAN VỀ THUẾ VÀ QUẢN LÝ THU THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU 1.1 Một số vấn đề lý luận về thuế xuất nhập khẩu 1.1 Khái niệm về thuế, quản lý thuế xuất nhập khẩu Thuế là một trong những công cụ quan trọng của Nhà nước để quản lý vĩ mô nền kinh tế. Thuế là một bộ phận của cải xã hội được tập trung vào ngân sách nhà nước, theo đó các thể nhân, pháp nhân phải chuyển giao bắt buộc một phần của cải của mình cho nhà nước mà không gắn bất kỳ sự ràng buộc nào về sự hoàn trả lợi ích tương quan với số thuế đã nộp nhằm trang trải các chi phí duy trì sự tồn tại, hoạt động của bộ máy nhà nước và chi phí công công, đem lại lợi ích chung cho cộng đồng (Tổng Cục thuế, Tài liệu nội bộ, 2009). Quản lý thuế là quá trình thực thi các chức năng đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế, quản lý hoàn thuế, giảm thuế, miễn thuế; quản lý xóa nợ tiền thuế, tiền phạt; quản lý thông tin về người nộp thuế, kiểm tra, thanh tra, cưỡng chế thi hành các quyết định hành chính thuế; xử lý vi phạm pháp luật thuế và giải quyết khiếu nại tố cáo về thuế (Luật quản lý thuế Việt Nam, 2006).
Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là một loại thuế đánh vào các hàng hoá mậu dịch, phi mậu dịch được phép xuất khẩu, nhập khẩu qua biên giới Việt Nam.Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là công cụ rất quan trọng để khuyến khích xuất nhập khẩu nguyên liệu,vật liệu, ưu tiên loại trong nước chưa đáp ứng nhu cầu; chú trọng phát triển lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ nguồn, tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường, góp phần bình ổn thị trường và nguồn thu ngân sách nhà nước. Như vậy có thể nói Thuế XNK là công cụ rất quan trọng để nhà nước thực hiện chính sách kinh tế của mình, quản lý các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu; mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại; nâng cao hiệu quả của hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu.2 Phân loại thuế xuất nhập khẩu Có nhiều cách phân loại thuế xuất nhập khẩu: Theo xu hướng vận động của hàng hóa: 4 - Thuế xuất khẩu: là loại thuế mà được tính vào giá bán của hàng hoá xuất khẩu. - Thuế nhập khẩu: là loại thuế mà một quốc gia hay vùng lãnh thổ đánh vào hàng hóa có nguồn gốc từ nước ngoài trong quá trình nhập khẩu. - Thuế quá cảnh: là loại thuế đánh vào hàng hóa đi qua lãnh thổ quốc gia đến một nước thứ ba.
Căn cứ vào mục đích của thuế XNK: - Thuế chống phá giá: là loại thuế được áp dụng đối với hàng hóa bán phá giá vào Việt Nam. - Thuế chống trợ cấp: là loại thuế áp dụng đối với hàng hóa được trợ cấp nhập khẩu vào Việt Nam. - Thuế tự vệ: Thuế tự vệ được áp dụng trong phạm vi và mức độ cần thiết nhằm ngăn ngừa hoặc hạn chế thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước và tạo điều kiện để ngành sản xuất đó nâng cao khả năng cạnh tranh. Căn cứ vào phạm vi tác dụng của thuế XNK: - Thuế XNK tự quản: là loại thuế thể hiện tính độc lập của một quốc gia.
- Thuế XNK theo các cam kết quốc tế: là loại thuế thực hiện theo các cam kết trong các Hiệp định song phương hoặc đa phương đã ký kết. Căn cứ vào cách thức tính thuế: - Tính thuế theo phương pháp tuyệt đối: Số tiền thuế XNK phải nộp theo phương pháp tính thuế tuyệt đối được xác định căn cứ vào lượng hàng hóa thực tế xuất khẩu, nhập khẩu và mức thuế tuyệt đối quy định trên một đơn vị hàng hóa tại thời điểm tính thuế. - Tính thuế theo tỷ lệ phần trăm: Theo phương pháp này, số tiền thuế XNK phải nộp được xác định căn cứ vào trị giá tính thuế và thuế suất theo tỷ lệ phần trăm của từng mặt hàng tại thời điểm tính thuế. - Tính thuế theo phương pháp hỗn hợp: Số tiền thuế XNK phải nộp theo phương pháp tính thuế hỗn hợp được xác định là tổng số tiền thuế theo tỷ lệ phần trăm và số tiền thuế tuyệt đối như trình bày ở trên.3 Vai trò của thuế xuất nhập khẩu Tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước: Thuế XNK góp phần quan trọng trong việc hình thành nguồn thu cho NSNN khi thực hiện chức năng quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế và bảo hộ sản xuất trong nước.
Tùy thuộc vào từng thời kỳ, giai đoạn lịch sử khác nhau, sự phát triển kinh tế đối ngoại và quan điểm sử dụng mà thuế XNK có vai trò khác nhau ở những quốc gia khác nhau trong việc tạo lập nguồn thu cho NSNN. Các nước đang phát triển như Việt Nam,thuế XNK luôn chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng thu ngân sách, từ năm 2012 đến nay chiếm tỷ trọng từ 10% - 15% trong tổng thu Ngân sách và dần ổn định, phù hợp với xu hướng chung các nước trong khu vực. Là công cụ để nhà nước thực hiện kiểm tra, kiểm soát và quản lí các hoạt động thương mại quốc tế: Cùng với các công cụ hành chính như giấy phép, hạn ngạch; các rào cản kỹ thuật như điều kiện kinh doanh, tiêu chuẩn chất lượng. thì hàng rào thuế quan có thể cản trở hay tham gia mở cửa thị trường trong hoạt động mậu dịch quốc tế nhằm mục tiêu bảo đảm quyền lợi quốc gia ở mức tối ưu kết hợp.
Thuế xuất nhập khẩu còn thể hiện về chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước về các chính sách ưu đãi về thuế theo khu vực và quốc tế, đây là một biện pháp quản lý tiến bộ thay vì sử dụng những biện pháp phi thuế quan như cấm nhập khẩu. Là công cụ để bảo hộ sản xuất trong nước: Thuế XNK có thể coi là là công cụ bảo hộ sản xuất trong nước trước sự xâm nhập của hàng hoá nhập ngoại. Thuế nhập khẩu cao giúp giảm nhập khẩu bằng cách làm cho chúng trở nên đắt hơn so với các mặt hàng thay thế có trong nước và điều này làm giảm thâm hụt trong cán cân thương mại, hay bảo hộ các ngành then chốt, bảo vệ các ngành còn non trẻ để đủ khả năng cạnh tranh.