Chương I: Cơ sở lý luận về tạo động lực làm việc cho nhân viên trong tổ chức. Chương 2: Thực trạng các chính sách tạo động lực làm việc cho cán bộ công chức, viên chức tại huyện Đăk Giei. Chương 3: Các giải pháp nhằm hoàn thiện các chính sách tạo động lực làm việc cho cán bộ công chức, viên chức tại huyện Đăk Giei trong thời gian tới. Tổng quan tài liệu Tạo động lực thúc đây người lao động luôn là một trong những nội dung được các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý doanh nghiệp, các cơ quan Nhà nước đặc biệt quan tâm, đã có nhiều học thuyết, quan điểm, công trình nghiên cứu, tài liệu, bài viết, về công tác nâng cao động lực thúc đây người lao động ở góc độ lý luận, chính sách, hoạt động thực tiễn Để thực hiện đề tài này, tác giả đã tiến hành tham khảo một số lý thuyết và nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước như sau: Có nhiều quan điểm khác nhau về động lực lao động được đưa ra bởi Maier va Lauler (1973), Bedeian (1993), Kreitner (1995), Higgins (1994) va khẳng định tạo động lực cho người lao động giúp cho doanh nghiệp tổn tai va phát triển.
Một vài tài liệu đề cập đến hai nhóm yếu tố ảnh hưởng đến tạo động. lực: nhóm yếu tố thuộc bản thân người lao động và nhóm yếu tố môi trường. Các nhà nghiên cứu còn chỉ ra cách tiếp cận với tạo động lực theo hai cách khác nhau: các học thuyết về nội dung (ciia Maslow, Alderfer, McClelland, 'Herzberg) chỉ ra cách tiếp cận với các nhu cầu của lao động quản lý; nhóm học thuyét vé qua trinh (cla Adams, Vroom, Skinner, E.Locke) tim hiéu ly do mà mỗi người thể hiện hành động khác nhau trong công việc. Tuy nhiên, các học thuyết trên chỉ đề cập tới một khía cạnh của v: le.
Porter và Lauler (1968) đã kết hợp các học thuyết trên và đưa ra một mô hình tổng thể trong tạo động lực. Whetten va Cameron (1991), va Wood, Wallace, Zefane (2001) cũng ủng hộ mô hình này. va Pringle (1982), hiệu suất làm việc của nhân viên phụ thuộc đồng thời vào ba yếu ~ Năng lực của bản thân cá nhân đó, là khả năng của cá nhân đó trong thực hiện và giải quyết công việc. ~ Nguồn lực, điều kiện để thực thi công việc, gồm: công cụ, trang thiết bi, nguyên vật liệu, sự hỗ trợ, cơ chế.
- Động lực làm việc: cá nhân phải mong muốn đạt kết quả cao trong công. Nói cách khác, cá nhân cần “muốn làm” công việc đó với kết quả cao. Maier và Lauler (1973), Bedeian (1993) đã khẳng định tạo động lực cho người lao động giúp cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Một vài tài liệu đề cập đến hai nhóm yếu tố ảnh hưởng đến tạo động lực: nhóm yếu tố thuộc bản thân người lao động và nhóm yếu tố môi trường.
Nghiên cứu của Herzberg (1959), Two Factor Theory: Motivation Faetors. Nghiên cứu đã chỉ ra có 2 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc là các nhân tổ thúc day và nhân tố duy trì. Một số biến đo lường này được. vận dụng vào trong nghiên cứu của tác giả.
Nghiên cứu của Smith, Kendall and Hulin (1969), The measurement oƒ satisfaction in work and retirement. Nghiên cứu đã xây dựng chỉ số đánh giá mức độ thỏa mãn công việc JDI dựa trên các biến sau: bản chất công việc, tiền lương, sự giám sát của cắp trên, đào tạo thăng tiến, đồng nghiệp. Nghiên cứu của Chomg-Guang Wu (2007, Hoa Kỳ) dựa trên thuyết kỳ vọng của Victor Vroom. Nghiên cứu tiến hành kiểm định mô hình và đã kết luận rằng các yếu tố giúp đỡ đồng nghiệp, đánh giá công bằng, phát triển nghề nghiệp, cam kết của tổ chức, đáp ứng nhu cầu cá nhân là những yếu tổ tác động, đến động lực của nhân viên.
Bên cạnh các nhà khoa học tập trung nghiên cứu vấn đề động lực và tạo. động lực trong khu vực tư ở trên, từ năm 1990, các nghiên cứu ban đầu của Pery và Wise về động lực và tạo động lực trong khu vực công đã bỗ sung phần quan trọng vào việc hoàn thiện tương đối đầy đủ cả mặt lý luận và thực tiễn công tác tạo động lực cho người lao động. Với giả thuyết rằng động lực làm việc trong các tô chức hành chính nhà nước khác với động lực làm việc trong các tổ chức ở khu vực tư, hai tác giả đã chứng minh, làm sáng tỏ 03 luận điểm: Một là, động lực càng cao thì các cá nhân càng có xu hướng tìm kiếm công việc tại khu vực công: hai là, hiệu suất lao động trong khu vực công phụ thuộc rất nhiều vào động lực làm việc của mỗi cá nhân; ba là, hiệu quả quản lý thực thi trong khu vực công gắn liền với công tác tạo động lực hoặc thu hút các thành viên có động lực làm việc trong khu vực công mà không cần dùng quá nhiều biện pháp khuyến khích mang tính vật chất Tác giả Lê Thị Trâm Oanh (2009) với đề tài luận văn thạc sĩ “7ạo động lực làm việc cho công chức hành chính nhà nước ” cũng đã bước đầu hệ thông. hoá các lý luận cơ bản về động lực, tạo động lực trong lao động, các biện pháp tạo động lực làm việc cho nhân viên, từ đó đã nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực tế động lực làm việc của công chức hiện nay để đưa ra các kiến nghị giải pháp tạo động lực làm việc cho công chức hành chính nhà nước nói chung.
Những bài báo, viết chuyên đề của các tác giả trong nước gần đây cũng đã đưa ra những kiến nghị khả thi nhằm tạo động lực cho cán bộ, công chức nhà nước, như nghiên cứu của TS. Nguyễn Thị Hồng Hải “7o động lực làm việc cho cán bộ, công chức nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức hành chính nhà nước ”. Trong nghiên cứu của mình, TS. Nguyễn Hồng Hải đã chỉ rõ ảnh hưởng của động lực làm việc của cán bộ công chức đối với hiệu quả tạo động lực, nâng cao hiệu quả hoạt động của tô chức hành chính nhà nước đáp ứng yêu cầu cải cách nền công vụ nhà nước hiện nay.
Luận án tiến sỹ quản lý công của tác giả Nguyễn Thị Phương Lan (2015) “Hoàn thiện hệ thống công cụ tạo động lực cho công chức ở các cơ quan HCNN” đã hệ thống hoá một cách cơ bản lý thuyết động lực, tạo động lực mà còn làm sáng tỏ phần nào lý thuyết và phương pháp tiếp cận hệ thống, từng bước tiếp cận và phát triển lý luận về hệ thống công cụ tạo động lực, hoàn thiện hệ thống công cụ tạo động lực (trên nền lý thuyết chung về hệ thống) cho người lao động, trong đó có công chức ở các cơ quan HCNN, từ đó hướng đến là đề xuất nhóm các giải pháp hành chính nhằm hoàn thiện hệ thống công cụ tạo động lực trong hoạt động quản lý nhân sự nhằm khuyến khích công chức làm việc hiệu quả, góp phần xây dựng nên công vụ chất lượng. Hệ thống pháp luật liên quan đến công chức, viên chức và các văn ban hướng dẫn như: Luật Cán bộ công chức, viên chức được Quốc hội nước Cộng. hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII thông qua ngày 13/11/2008. Luật viên chức Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII thông qua ngày 15/10/2010.
Luật thì đua khen thưởng, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Ngoài ra, tác giả có tham khảo nội dung của một số đầu sách như: - Tran Thi Kim Dung - Quan tri nguồn nhân lực - NXB Hà Nội 1998 - 101 ý tưởng khích lệ đội ngũ nhân viên, NXB lao động — xã hội. ~_ Tạo động lực làm việc phải chăng chỉ có thể bằng tiền - NXB Trẻ, Tp Hồ Chí Minh 2002, nhiều tác giả. -_ Hành vi tổ chức, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, Bùi Văn Tuan (2009).
Cùng một số bài báo, tài liệu, luận văn của các tác giả nghiên cứu khác. Có thể thấy các nghiên cứu trên đã đưa ra được một cách nhìn tổng quát và những nhận định về các nhân tố tạo động lực cho người lao động, song chưa có nghiên cứu nào tiến hành nghiên cứu một cách cụ thể về chính sách tạo động. lực làm việc đối với đội ngũ cán bộ công chức, viên chức tại huyện Đăk Gilei — tỉnh Kon Tum. Trên cơ sở tham khảo các học thuyết nghiên cứu trên, tác giả nghiên cứu các chính sách tạo động lực làm việc cho đội ngũ cán bộ công chức, viên chức tại huyện Đăk Glei, từ đó đưa ra các giải pháp để hoàn thiện các chính sách tạo động lực làm việc cho đội ngũ cán bộ công chức, viên chức tại huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum.
10 CHUONG 1 CƠ SO LY LUAN VE TAO BONG LUC LAM VIEC CHO NHAN VIEN TRONG TO CHUC 1. MỘT SÓ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Khái niệm về động lực làm việc Theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu về động lực trong nước: Giáo trình quản trị nhân lực của Nguyễn Vân Điềm & Nguyễn Ngọc Quân (2007) thì “động lực là cái thúc đẩy, là cái gia tăng sự phát triển, có khả năng khơi dậy tính tích cực của chủ thể và xác định tính xu hướng của nó” [2, tr. Bên cạnh đó, trong rất nhiều tài liệu, giáo trình ở trong nước, động lực được định nghĩa “là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó” [2, tr.
134], theo giáo trình “Động lực làm việc trong tổ chức HCNN” của Nguyễn Thị Hồng Hải (2013) thì “động lực là sự thúc đây khiến cho con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép. để tạo ra năng suất, hiệu quả cao” [3, tr.24] Tóm lại, theo tác giả, động lực có thể được hiểu là sự kích thích, sự thúc đây từ bên trong chủ thể (người lao động) hoặc do sự tác động từ bên ngoài ới chủ thể khiến họ tự nguyện nỗ lực, phần đấu vì mục tiêu hoàn thành công việc được giao với kết quả tốt nhất, qua đó góp phần nâng cao năng suất, hiệu quả, sự thành công chung của tổ chức. Động lực là yếu tố bên trong nhưng lại được biểu hiện ra bên ngoài thông. qua các dấu hiệu thái độ và hành vi, trong những hoàn cảnh, môi trường làm việc cụ thể.
Thông qua nắm bắt được các biểu hiện động lực làm việc của người lao động, các nhà quản lý sẽ đánh giá được động lực làm việc của họ để có sự tác động các chính sách quản lý nhân sự phù hợp nhằm tạo động lực cho họ, góp phần tăng năng xuất lao động.