Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC NGÀNH THỐNG KÊ 1. Cơ sở lý luận về quản lý phát triển đội ngũ công chức ngành thống kê 1. Khái quát về đội ngũ công chức ngành thống kê 1. Khái niệm đội ngũ công chức ngành thống kê a) Khái niệm công chức ngành thống kê Ở mỗi quốc gia, tùy theo thể chế chính trị, sự phát triển kinh tế - xã hội, các yếu tố văn hóa, chế độ, chính sách trong từng giai đoạn cụ thể mà đối tượng, phạm vi công chức được xác định khác nhau.
Một số nước như Anh, Thái Lan, Singapore quy định công chức là những người làm công tác chuyên môn, nghiệp vụ trong bộ máy hành chính của các bộ thuộc chính phủ. Nga, Trung Quốc, Ba Lan, Hungary và một số nước khác quy định công chức không chỉ là những người thực hiện các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ quản lý trong bộ máy hành chính ở các bộ (trung ương) mà còn bao gồm cả những người làm công tác chuyên môn, nghiệp vụ quản lý trong bộ máy hành chính thuộc chính quyền địa phương. Ở Việt Nam, khái niệm công chức được hình thành và ngày càng hoàn thiện gắn với sự phát triển của Nhà nước ta. Sau khi nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 về Quy chế công chức.
Theo Quy chế này, công chức là những người được tuyển dụng giữ một chức vụ thường xuyên trong các hệ thống cơ quan Chính phủ, còn những người làm việc trong các cơ quan lập pháp và tư pháp không phải công chức. Tuy nhiên, quy định trên bị gián đoạn, không được áp dụng trong giai đoạn nước ta tiến hành cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Trong khoảng thời gian từ năm 1960 đến năm 1980, khái niệm công chức ít được sử dụng, thay vào đó là khái niệm cán bộ, công nhân, viên chức. Năm 1991, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 169/HĐBT ngày 25/5/1991 quy định khá rõ khái niệm công chức là “công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của nhà nước ở trung ương hay 6 địa phương, ở trong nước hay ngoài nước đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp”.
Nghị định cũng quy định rõ những người được xác định là công chức. Tuy nhiên, các quy định nêu trong Nghị định do nhiều nguyên nhân khác nhau đã không được áp dụng trên thực tế. Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998, Nghị định số 95/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức đã kế thừa khái niệm công chức trong Nghị định số 169/HĐBT ngày 25/5/1991 và quy định cụ thể hơn thông qua liệt kê những đối tượng là công chức nhà nước. Theo Nghị định số 95/1998/NĐ-CP, công chức là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, làm việc trong các cơ quan: Văn phòng Chủ tịch nước; Văn phòng Quốc hội; cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện,… Khoản 2 Điều 4 Luật Cán bộ, Công chức số 22/2008/QH (2008) quy định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”.
Công chức ngành thống kê là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong ngành Thống kê, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước cấp cho Tổng cục Thống kê. 7 b) Khái niệm đội ngũ công chức ngành thống kê Đội ngũ công chức là một yếu tố không thể thiếu trong hoạt động của một nhà nước. Trên thế giới đến nay vẫn chưa có một quan niệm chung, thống nhất về công chức, nhưng tại nhiều quốc gia, dấu hiệu chung của công chức thường là: - Công dân của nước đó; - Được tuyển dụng qua thi tuyển; - Được bổ nhiệm vào một ngạch hoặc một vị trí công việc; - Được hưởng lương từ ngân sách nhà nước; - Đảm nhiệm một công vụ nhất định. Theo Đại từ điển Tiếng Việt (2014, NXB Văn hóa thông tin) thì: “Đội ngũ là một khối đông người cùng chức năng nghề nghiệp, được tập hợp và tổ chức thành một lực lượng”.
Đội ngũ công chức ngành thống kê là một nhóm người được tập hợp thành một lực lượng để cùng thực hiện công việc quản lý nhà nước về thống kê. Cụ thể những người đó bao gồm: Tổng cục trưởng, các Phó tổng cục trưởng, Vụ trưởng và tương đương, Cục trưởng, Phó Vụ trưởng và tương đương, Phó Cục trưởng, Trưởng phòng, Chi cục trưởng, Phó trưởng phòng, Phó chi cục trưởng, Thống kê viên và tương đương, Thống kê viên trình độ cao đẳng và tương đương, Thống kê viên trung cấp và tương đương. Đặc điểm đội ngũ công chức ngành thống kê Thứ nhất, công chức thống kê được tuyển dụng, bổ nhiệm, quản lý và sử dụng theo chỉ tiêu biên chế được giao cho TCTK và quy định của pháp luật; được hưởng lương và các khoản thu nhập khác từ nguồn ngân sách Nhà nước hoặc quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập do Tổng cục Thống kê thành lập. Thứ hai, là những người trực tiếp triển khai đường lối, chính sách pháp luật của Nhà nước về thống kê tới tổ chức và công dân, nhân danh nhà nước để thực thi công vụ; là cầu nối giữa Nhà nước với Nhân dân trong lĩnh vực thống kê.
Thứ ba, có tính ổn định khá cao, số lượng tương đối lớn, chất lượng cao, đa dạng về cơ cấu ngạch công chức, trình độ đào tạo. Tính đến đầu tháng 10 năm 2018 trong số 5.303 công chức ngành thống kê có 8 10 công chức giữ ngạch Thống kê viên cao cấp và tương đương, 528 công chức giữ ngạch thống kê viên chính và tương đương, 3.604 công chức giữ ngạch thống kê viên và tương đương, 391 công chức giữ ngạch thống kê viên cao đẳng và tương đương, 755 công chức giữ ngạch thống kê viên trung cấp và tương đương. Do xuất phát điểm khác nhau nên trình độ của đội ngũ công chức ngành thống kê cũng khác nhau. Nhiều công chức được đào tạo cơ bản, chính quy, có trình độ đại học, thạc sỹ, tiến sỹ, có trình độ lý luận chính trị bậc cao cấp, cử nhân.
Một số công chức đã trải qua thời gian công tác trong quân đội, tham gia kháng chiến giải phóng dân tộc hoặc điều kiện kinh tế gặp khó khăn, nên ít có điều kiện học tập chính quy mà chủ yếu học tại chức và tích lũy kinh nghiệm trong hoạt động thực tiễn. Trình độ ngoại ngữ, tin học còn bất cập trước yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ hội nhập quốc tế. Điều đó đòi hỏi trong những năm tới phải làm tốt công tác cán bộ, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng công chức về mọi mặt, từng bước bố trí sắp xếp vị trí việc làm cho hợp lý. Thứ tư, đội ngũ công chức thống kê có tinh thần trách nhiệm, bản lĩnh vững vàng về chuyên môn nghiệp vụ và ý thức chấp hành pháp luật; bảo đảm tốt nguyên tắc cơ bản đầu tiên trong hoạt động Thống kê của Nhà nước, đó là trung thực, khách quan, chính xác, đầy đủ, kịp thời, thực hiện đúng Luật Thống kê.
Vai trò của đội ngũ công chức ngành thống kê Nghị quyết 64/267 ngày 03 tháng 7 năm 2010 của Đại hội đồng Liên hợp quốc đã khẳng định tầm quan trọng và giá trị cơ bản của Thống kê là cung cấp kịp thời, đầy đủ các chỉ tiêu và số liệu thống kê đáng tin cậy phản ánh sự tiến bộ xã hội phục vụ cho việc hoạch định các chính sách phát triển bền vững ở mọi quốc gia. Ở Việt Nam, ngành Thống kê có vị trí quan trọng, là nơi cho kết quả đầu ra của cả nền kinh tế với những số liệu khách quan, trung thực. Từ sản phẩm kết quả đầu ra về kinh tế - xã hội của đất nước, giúp cho việc hoạch định về các chiến lược và công tác quy hoạch, kế hoạch của Quốc gia, của ngành. Từ đó, hình thành nên những cơ chế chính sách để phát triển KTXH của đất nước.