Luận văn thạc sĩ: Quản lý nhà nước về nông thôn mới ở huyện Minh Hóa, Quảng Bình

Nghiên cứu phân tích thực trạng, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Minh Hoa, tỉnh Quảng Bình.

Trường đại học

Học viện Hành chính Quốc gia

Chuyên ngành

Quản lý công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2017

157
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về xây dựng nông thôn mới ở huyện Minh Hóa

Xây dựng nông thôn mới là chương trình trọng điểm quốc gia nhằm thay đổi diện mạo nông thôn Việt Nam. Chương trình bao gồm 19 tiêu chí đánh giá, từ hạ tầng giao thông, thủy lợi đến giáo dục, y tế, văn hóa và môi trường. Huyện Minh Hóa thuộc tỉnh Quảng Bình là địa phương miền núi có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn. Quá trình xây dựng nông thôn mới tại đây đòi hỏi sự nỗ lực lớn từ cả hệ thống chính trị và người dân. Quản lý nhà nước đóng vai trò then chốt trong việc định hướng, tổ chức và giám sát thực hiện chương trình. Nghiên cứu về thực trạng quản lý nhà nước tại huyện Minh Hóa giúp đánh giá toàn diện kết quả đạt được, chỉ ra hạn chế và đề xuất giải pháp phù hợp với đặc thù địa phương. Đây là cơ sở khoa học quan trọng để nâng cao hiệu quả xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn tiếp theo.

1.1. Khái niệm và bản chất của chương trình nông thôn mới

Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới được triển khai từ năm 2010 theo Quyết định số 491/QĐ-TTg. Chương trình hướng đến mục tiêu nâng cao toàn diện đời sống vật chất và tinh thần cho người dân nông thôn. Bản chất của chương trình là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện về kinh tế, xã hội, môi trường và hệ thống chính trị ở nông thôn. Bộ tiêu chí quốc gia gồm 19 tiêu chí bao quát các lĩnh vực: quy hoạch, giao thông, thủy lợi, điện, trường học, cơ sở vật chất văn hóa, y tế, môi trường và an ninh trật tự. Chương trình thể hiện quan điểm phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ chiến lược của toàn Đảng, toàn dân.

1.2. Vai trò của quản lý nhà nước trong xây dựng nông thôn mới

Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới là tổng thể hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước nhằm tổ chức, điều phối và giám sát thực hiện chương trình. Quản lý nhà nước đảm bảo chương trình đi đúng định hướng, phù hợp với điều kiện thực tế từng địa phương. Các nội dung quản lý bao gồm: xây dựng thể chế, chính sách; tổ chức thực hiện; huy động nguồn lực; kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả. Cấp ủy, chính quyền các cấp từ tỉnh đến xã đều có trách nhiệm trong quá trình triển khai. Hiệu quả quản lý nhà nước quyết định trực tiếp đến tiến độ, chất lượng và tính bền vững của kết quả xây dựng nông thôn mới tại mỗi địa phương.

II. Phân tích thực trạng xây dựng nông thôn mới ở huyện Minh Hóa

Huyện Minh Hóa nằm ở phía tây tỉnh Quảng Bình, tiếp giáp biên giới Việt-Lào. Địa hình chủ yếu là đồi núi cao, diện tích đất canh tác hạn chế. Dân số phần lớn là đồng bào dân tộc thiểu số, trình độ dân trí không đồng đều. Kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, lâm nghiệp với năng suất thấp. Cơ sở hạ tầng giao thông, thủy lợi còn thiếu thốn, nhiều xã vùng sâu gặp khó khăn về điện, nước sinh hoạt. Tỷ lệ hộ nghèo chiếm tỷ trọng cao so với mặt bằng chung tỉnh Quảng Bình. Đời sống văn hóa, tinh thần còn nhiều hạn chế. Chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện đạt được một số kết quả bước đầu nhưng tiến độ còn chậm. Nhiều tiêu chí chưa đạt chuẩn, đặc biệt về giao thông, giáo dục và giảm nghèo. Nguyên nhân chính là do xuất phát điểm thấp, nguồn lực đầu tư hạn chế và năng lực cán bộ cơ sở chưa đáp ứng yêu cầu.

2.1. Đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội huyện Minh Hóa

Huyện Minh Hóa có diện tích tự nhiên lớn nhưng phần lớn là rừng núi, đất canh tác chiếm tỷ lệ nhỏ. Khí hậu khắc nghiệt, thường xuyên chịu ảnh hưởng thiên tai lũ lụt. Dân cư phân bố thưa thớt, nhiều bản làng cách trở đò giang. Kinh tế nông nghiệp manh mún, thiếu liên kết sản xuất. Công nghiệp, dịch vụ chưa phát triển. Tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp, thiếu nhân lực chất lượng cao. Thu nhập bình quân đầu người ở mức thấp so với mặt bằng toàn tỉnh. Đây là những thách thức lớn đối với quá trình xây dựng nông thôn mới tại địa phương.

2.2. Kết quả đạt được và những hạn chế còn tồn tại

Sau nhiều năm triển khai, huyện Minh Hóa đã có một số xã đạt chuẩn nông thôn mới. Hạ tầng giao thông nông thôn được cải thiện đáng kể. Hệ thống trường học, trạm y tế được đầu tư xây dựng. Tỷ lệ hộ nghèo giảm dần qua các năm. Tuy nhiên, tiến độ đạt chuẩn còn chậm so với kế hoạch đề ra. Nhiều tiêu chí liên quan đến thu nhập, lao động qua đào tạo, môi trường chưa đạt. Nguồn vốn đầu tư chưa đáp ứng nhu cầu. Sự tham gia của người dân vào quá trình xây dựng nông thôn mới chưa đồng đều. Công tác kiểm tra, giám sát đôi khi còn hình thức, chưa phát huy hiệu quả.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về nông thôn mới

Để nâng cao hiệu quả xây dựng nông thôn mới ở huyện Minh Hóa, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp quản lý nhà nước. Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế chính sách phù hợp với đặc thù miền núi, biên giới. Thứ hai, tăng cường năng lực cán bộ cấp xã trong công tác tham mưu và tổ chức thực hiện. Thứ ba, đa dạng hóa nguồn lực đầu tư, kết hợp ngân sách nhà nước với huy động sức dân và xã hội hóa. Thứ tư, đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp để tăng thu nhập cho người dân. Thứ năm, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát thường xuyên, liên tục. Mỗi giải pháp cần được cụ thể hóa bằng kế hoạch hành động rõ ràng, phân công trách nhiệm cụ thể cho từng cơ quan, đơn vị. Sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành là yếu tố quyết định thành công.

3.1. Hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực cán bộ

Cần rà soát, điều chỉnh các cơ chế chính sách cho phù hợp với điều kiện thực tế huyện miền núi. Ban hành quy chế phối hợp rõ ràng giữa các phòng, ban chuyên môn với UBND cấp xã. Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ làm công tác xây dựng nông thôn mới. Tổ chức học tập kinh nghiệm từ các huyện đạt kết quả tốt như Bố Trạch, Quảng Ninh. Xây dựng hệ thống đánh giá hiệu quả công việc minh bạch, gắn trách nhiệm cá nhân với kết quả thực hiện. Chú trọng tuyển dụng cán bộ có chuyên môn, tâm huyết với công việc.

3.2. Huy động nguồn lực và phát huy vai trò nhân dân

Đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư từ ngân sách trung ương, địa phương và nguồn xã hội hóa. Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông thôn, phát triển chuỗi giá trị nông sản. Phát huy tối đa nội lực của cộng đồng dân cư thông qua đóng góp ngày công, hiến đất. Tuyên truyền, vận động nhân dân nhận thức đúng đắn về mục đích, ý nghĩa của chương trình. Người dân phải là chủ thể trực tiếp tham gia và thụ hưởng thành quả. Xây dựng các mô hình điểm, nhân điển hình tiên tiến để lan tỏa phong trào. Ưu tiên nguồn lực cho các xã còn nhiều khó khăn để đảm bảo công bằng trong phát triển.

IV. Kết luận và hướng phát triển bền vững nông thôn mới

Nghiên cứu về quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện Minh Hóa cho thấy nhiều bài học quý giá. Quản lý nhà nước hiệu quả là yếu tố then chốt quyết định thành công của chương trình. Cần tiếp tục đổi mới phương thức quản lý, gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả thực hiện. Hướng phát triển bền vững đòi hỏi nông thôn mới không chỉ đạt chuẩn mà phải duy trì và nâng cao chất lượng các tiêu chí. Phát triển kinh tế nông thôn phải gắn với bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa. Nâng cao thu nhập thực chất cho người dân nông thôn là mục tiêu cốt lõi. Cần xây dựng cơ chế giám sát cộng đồng để đảm bảo tính minh bạch và bền vững. Kinh nghiệm từ huyện Minh Hóa có ý nghĩa tham khảo cho các địa phương có điều kiện tương tự trong cả nước.

4.1. Bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn huyện Minh Hóa

Bài học đầu tiên là phải xuất phát từ thực tế địa phương, không áp đặt máy móc mô hình từ nơi khác. Sự đồng thuận và tham gia tích cực của người dân là yếu tố quyết định. Cần phát huy vai trò lãnh đạo của cấp ủy Đảng, sự điều hành quyết liệt của chính quyền. Phân bổ nguồn lực phải trọng tâm, trọng điểm, tránh dàn trải. Kiểm tra, giám sát phải thường xuyên, kịp thời phát hiện và xử lý sai phạm. Huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc, không để chương trình là nhiệm vụ riêng của một cơ quan. Đánh giá kết quả phải khách quan, trung thực để rút kinh nghiệm kịp thời.

4.2. Định hướng phát triển nông thôn mới bền vững giai đoạn tiếp theo

Giai đoạn tiếp theo cần tập trung nâng chất lượng các tiêu chí đã đạt, không chạy theo số lượng. Phát triển kinh tế nông thôn gắn với chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp. Ưu tiên đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn. Xây dựng nông thôn mới gắn với đô thị hóa có kiểm soát. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và sản xuất. Tăng cường liên kết vùng, liên kết chuỗi giá trị nông sản. Chú trọng bảo vệ môi trường sinh thái, thích ứng biến đổi khí hậu. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình hiện đại hóa nông thôn.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận văn thạc sĩ quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện minh hóa tỉnh quảng bình

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1.Tổng quan về xây dựng nông thôn mới. Khái niệm về nông thôn mới đƣợc các nhà nghiên cứu ở nƣớc ta tiếp cận từ nhiều gốc độ: Tác giả Vũ Trọng Khải trong cuốn sách phát triển nông thôn Việt Nam: “Từ làng xã truyền thống đến văn minh thời đại”: cho rằng, “Nông thôn mới là nông thôn văn minh thời đại nhƣng vẫn giữ đƣợc nét đẹp truyền thống của Việt Nam”. Tác giả Tô Văn Trƣờng định nghĩa: “ Nông thôn mới là nông thôn phải giữ đƣợc tính truyền thống, những nét đặc trƣng nhất, bản sắc từng vùng, từng dân tộc và nâng cao giá trị đoàn kết của cộng đồng, mức sống của ngƣời dân. Mô hình nông thôn tiên tiến phải đƣợc dựa trên nền tảng cơ bản là nông dân có tri thức.

Họ phải có trình độ khoa học về thổ nhƣỡng, giống cây trồng, hóa học phân bón và thuốc trừ sâu, quản lý dịch bệnh, bảo quản thu hoạch, kinh tế nông nghiệp …” Theo quan niệm của Đảng và nhà nƣớc ta trong chủ trƣơng, chính sách về xây dựng nông thôn mới thì khái niệm “nông thôn mới” đƣợc hiểu là: Nông thôn mới là nông thôn mà trong đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của ngƣời dân không ngừng đƣợc nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị. Nông dân đƣợc đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới. Nông thôn mới là nông thôn có kinh tế phát triển toàn diện, bền vững, cơ sở hạ tầng đƣợc xây dựng đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp lý giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị. Nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc, môi trƣờng sinh thái đƣợc bảo vệ.

Sức mạnh của hệ thống chính trị đƣợc nâng cao, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội. 8 Nhƣ vậy, ở Việt Nam nhìn chung đều thống nhất, đồng tình với khái niệm nông thôn mới là nông thôn đƣợc xây dựng và phát triển ở một mức độ cao hơn nông thôn truyền thống về cả mặt đời sống vật chất, tinh thần của ngƣời nông dân. Cơ sở hạ tầng, kiến thức thƣợng tầng của nông thôn đƣợc quy hoạch, cải thiện, phát triển văn minh. Có nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, sức mạnh của hệ thống chính trị cơ sở đƣợc phát huy.

Đáp ứng đƣợc yêu cầu phát triển chung của thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa, thời kỳ đổi mới đất nƣớc. Sự cần thiết xây dựng nông thôn mới. Sau hơn 20 năm thực hiện đƣờng lối đổi mới, dƣới sự lãnh đạo của Đảng, nông nghiệp nông dân, nông thôn nƣớc ta đã đạt đƣợc một số thành tựu khá toàn diện và to lớn. Nhƣ nông nghiệp tiếp tục phát triển với tốc độ khá cao theo hƣớng sản xuất hàng hóa, nâng cao năng suất, chất lƣợng và hiệu quả; đảm bảo vững chắc an ninh lƣơng thực quốc gia; một số mặt hàng xuất khẩu chiếm vị thế cao trên thị trƣờng thế giới.

Kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hƣớng tăng công nghiệp dịch vụ ngành nghề; các hình thức tổ chức sản xuất tiếp tục đổi mới kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội đƣợc tăng cƣờng; bộ mặt nhiều vùng nông thôn thay đổi. Đời sống vật chất và tinh thần của nông dân ngày càng đƣợc cải thiện. Công cuộc xóa đói giảm nghèo đạt kết quả to lớn. Hệ thống chính trị ở nông thôn đƣợc cũng cố và tăng cƣờng.

Dân chủ cơ sở đƣợc phát huy. An ninh chính trị trật tự an toàn xã hội đƣợc giữ vững. Vị thế chính trị của giai cấp nông dân ngày càng đƣợc nâng cao. Tuy nhiên, những thành tựu đạt đƣợc chƣa tƣơng xứng với tiềm năng, lợi thế và chƣa đồng đều giữa các vùng.

Nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, tốc độ tăng trƣởng có xu hƣớng giảm dần, sức cạnh tranh thấp, chƣa phát huy tốt nguồn lực cho phát triển sản xuất; nghiên cứu chuyển giao khoa học công nghệ và đào tạo nguồn lực còn hạn chế. 9 Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới cách thức sản xuất trong nông nghiệp còn chậm, chƣa thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động nông thôn. Các hình thức tổ chức sản xuất chậm đổi mới, chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu phát triển mạnh sản xuất hàng hóa. Nông nghiệp và nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu kinh tế hạ tầng còn yếu kém, môi trƣờng ngày càng ô nhiễm; năng lực thích ứng và đối phó với thiên tai còn nhiều hạn chế, đời sống vật chất và tinh thần của ngƣời dân nông thôn còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, nhất là vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa; chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng còn lớn, phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc.

Những hạn chế yếu kém trên là do nhận thức về vị trí nông nghiệp, nông dân, nông thôn còn bất cập so với thực tiễn chƣa hình thành một cách có hệ thống lý luận về phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn; cơ chế, chính sách phát triển lĩnh vực này còn thiếu đồng bộ, thiếu tính đột phá; Một số chủ trƣơng chính sách không hợp lý, thiếu tính khả thi nhƣng chậm đƣợc điều chỉnh, bổ sung kịp thời, đầu tƣ ngân sách nhà nƣớc và các thành phần kinh tế vào nông nghiệp, nông dân và nông thôn còn thấp, chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu phát triển; tổ chức chỉ đạo thực hiện và công tác quản lý nhà nƣớc còn nhiều bất cập, yếu kém; vai trò của cấp ủy, chính quyền, mặt trận, đoàn thể quần chúng nhân dân trong việc triển khai các chủ trƣơng của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nƣớc về nông nghiệp, nông dân và nông thôn còn nhiều nơi hạn chế. Vì những lý do trên Đảng ta việc đề ra chủ trƣơng, chính sách xây dựng nông thôn mới là hết sức cần thiết để kéo gần khoảng cách phát triển giữa thành thị và nông thôn; khắc phục những yếu kém tồn tại đang diễn ra trong quá trình phát triển nông nghiệp nông dân và nông thôn ở nƣớc ta hiện nay. Phát huy tiềm năng, lợi thế và có sự đầu tƣ tƣơng xứng đối với nông nghiệp, nông dân và nông thôn ở nƣớc ta hiện nay. Mục đích của xây dựng nông thôn mới: Xây dựng nông thôn mới nhằm mục đích hiện đại hóa nông nghiệp, xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại hóa, cơ giới hóa đáp ứng đƣợc yêu cầu của nền kinh tế thị trƣờng sản xuất hàng hóa trong thời đại mới.

Thúc đẩy công nghiệp hóa khu vực nông thôn để kéo gần khoảng cách phát triển về kinh tế - văn hóa – xã hội giữa khu vực thành thị và nông thôn ở nƣớc ta hiện nay và phục vụ nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Mục đích quan trọng nhất của xây dựng nông thôn mới là phục vụ nhân dân, nâng cao chất lƣợng đời sống của đại bộ phận tầng lớp nông dân sống ở nông thôn chiếm 70% dân số cả nƣớc. Trong thời kỳ đổi mới, yêu cầu về chất lƣợng cuộc sống của ngƣời dân ngày càng cao, không chỉ là vật chất, tinh thần, mà quan trọng hơn hết là ngƣời dân còn cần đƣợc tôn trọng trong các mối quan hệ hàng ngày. Xây dựng nông thôn mới không chỉ là con đƣờng mới, cây cầu mới, mà là sự thông thƣơng hàng hóa, nông sản; không chỉ là trƣờng học mới, mà là chất lƣợng dạy và học, là không để học sinh không đƣợc đến trƣờng vì hoàn cảnh gia đình khó khăn; không chỉ là trạm y tế mới mà là thái độ phục vụ của ngƣời thầy thuốc, là môi trƣờng an toàn dịch bệnh; không chỉ là nhà văn hóa mới mà là hoạt động văn hóa, học tập, sinh hoạt của cộng đồng dân cƣ; không chỉ là ngôi nhà kiên cố mới mà là gia đình thuận hòa, ấm no, hạnh phúc.

Và nhất là không phải là trụ sở làm việc mới với các phƣơng tiện hiện đại, mà chính là thái độ phục vụ mới, lề lối làm việc mới của cả hệ thống chính trị cấp xã, cấp gần dân nhất. Nhƣ vậy mục đích của xây dựng nông thôn mới là phát triển nông thôn, hiện đại hóa nền nông nghiệp, phục vụ đời sống của nông dân về mọi mặt. Các yếu tố ảnh hưởng tới xây dựng nông thôn mới 1. Yếu tố khách quan.

+ Điều kiện tự nhiên: là một trong những yếu tố khách quan ảnh hƣởng đến quá trình xây dựng nông thôn mới. Xét về mặt cơ cấu, hoạt động nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế khu vực nông thôn. Bên cạnh đó hoạt động sản xuất nông nghiệp ở nƣớc ta luôn luôn phụ thuộc chặt chẽ vào điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên nhƣ đất đai, nƣớc, không khí. do đó những biến đổi trong điều kiện tự nhiên luôn gây ra những ảnh hƣởng không nhỏ đến sản xuất nông nghiệp và đời sống của cƣ dân nông thôn.

Yếu tố biến đổi khí hậu tác động không nhỏ đến sản xuất nông nghiệp ở nông thôn, hạn hán, bão lũ, triều cƣờng, gây mất mùa, hƣ hỏng các công trình cơ sở hạ tầng nông thôn. Tác động không nhỏ đến đời sống của cƣ dân nông thôn, phá hoại và làm ngƣng trệ mùa màng. Chi phí phát sinh trong quá trình đầu tƣ xây dựng cơ sở hạ tầng và chi phí sản xuất tăng cao, lợi nhuận đầu tƣ giảm. Gây ảnh hƣởng đến việc sử dụng đất nông nghiệp bỏ mất diện tích đất nông nghiệp do nƣớc biển dâng ở hạ nguồn, sạt lỡ đất ở thƣợng nguồn.

Khí hậu ngày càng nóng lên, thay đổi thời tiết, thay đổi cơ cấu vật nuôi cây trồng. Một số loại cây nông nghiệp thế mạnh bị tác động bởi thời tiết có thể bị triệt tiêu vì hệ sinh thái thay đổi. Đất đai sản xuất phân tán, bạc màu làm ảnh hƣởng không nhỏ đến quá trình cơ giới hóa nền sản xuất nông nghiệp ở nƣớc ta, ảnh hƣởng đến quá trình sản xuất hàng hóa với quy mô lớn. Nguồn nƣớc bị cạn kiệt và giảm chất lƣợng gây ra nhiều vấn nạn cho các vùng nông thôn đặc biệt là trong những mùa hạn hán, tình trạng thiếu nƣớc sản xuất, thiếu nƣớc sinh hoạt.

Biến đổi khí hậu gây nhiều khó khăn cho công tác thủy lợi, nguồn nƣớc ngọt bị giảm sút, khả năng tiêu thoát nƣớc ra 12 biển khó khăn. Các cơn lũ ngày càng lớn, kéo dài ảnh hƣởng đến nền sản xuất nông nghiệp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ