Tổng quan nghiên cứu

Quản lý nhà nước về di sản văn hóa đóng vai trò then chốt trong việc bảo tồn các giá trị lịch sử và bản sắc dân tộc trong tiến trình hiện đại hóa. Địa bàn quận Ba Đình, trung tâm hành chính - chính trị quốc gia của Thủ đô Hà Nội với diện tích tự nhiên 9,25 km² và dân số trên 247.100 người, sở hữu mật độ cư dân lên tới 24.703 người/km². Toàn quận hiện có 73 di tích lịch sử văn hóa và cách mạng kháng chiến, phản ánh trầm tích văn hóa hàng nghìn năm của vùng đất Thăng Long xưa. Tuy nhiên, tốc độ đô thị hóa nhanh cùng mật độ dân số cao đã tạo ra áp lực nặng nề lên công tác quản lý, khiến khoảng một phần ba số di tích rơi vào tình trạng xuống cấp, một số địa điểm bị lấn chiếm hoặc sử dụng sai mục đích.

Trước thực trạng đó, nghiên cứu được thực hiện nhằm hệ thống hóa cơ sở khoa học về quản lý nhà nước đối với di tích lịch sử văn hóa, đồng thời đánh giá toàn diện thực trạng quản lý trên địa bàn quận Ba Đình trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2020. Mục tiêu trọng tâm của luận văn là xác định các nút thắt trong việc thực thi thể chế, chính sách, kiện toàn bộ máy nhân sự, phân bổ ngân sách và công tác thanh tra kiểm tra. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện cơ chế quản lý công, đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả bảo tồn 100% các di tích đã xếp hạng và thúc đẩy nguồn lực xã hội hóa cho sự phát triển bền vững của Thủ đô.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng khung lý thuyết dựa trên nền tảng của lý thuyết quản lý nhà nước trong lĩnh vực văn hóa và lý thuyết quản lý công hiện đại. Theo Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), di tích lịch sử văn hóa được xác định là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học. Hoạt động quản lý nhà nước về di tích là sự chấp hành, điều hành của các cơ quan công quyền thông qua hệ thống pháp luật, chính sách, quy hoạch và kế hoạch nhằm định hướng, điều chỉnh hành vi xã hội theo đúng mục tiêu của Nhà nước.

Khung phân tích của đề tài tập trung vào 5 nội dung quản lý cốt lõi: xây dựng và thực thi thể chế; cụ thể hóa chính sách; kiện toàn tổ chức bộ máy và nhân lực; huy động, phân bổ nguồn lực tài chính; thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm. Hệ thống văn bản pháp lý nền tảng được vận dụng bao gồm Sắc lệnh số 65/SL năm 1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nghị định số 98/2010/NĐ-CP hướng dẫn Luật Di sản văn hóa, Nghị định số 70/2012/NĐ-CP quy định trình tự lập và phê duyệt dự án tu bổ di tích, cùng các thông tư hướng dẫn của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử kết hợp với các phương pháp nghiên cứu liên ngành. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực địa toàn diện tại 73 di tích trên địa bàn 14 phường của quận Ba Đình trong mốc thời gian từ năm 2016 đến năm 2020. Cỡ mẫu khảo sát bao gồm 100% tổng thể các di tích lịch sử văn hóa hiện có trên địa bàn, kết hợp phỏng vấn sâu 30 cán bộ chuyên trách văn hóa và thành viên ban quản lý di tích cơ sở theo phương pháp chọn mẫu định ngạch và chọn mẫu chuyên gia.

Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo định kỳ của Phòng Văn hóa và Thông tin quận Ba Đình, hệ thống hồ sơ khoa học xếp hạng di tích và các văn bản chỉ đạo của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội. Phương pháp thống kê mô tả và phân tích định lượng được lựa chọn nhằm lượng hóa chính xác tỷ lệ hư hại kỹ thuật và cơ cấu vốn đầu tư. Phương pháp so sánh không gian được áp dụng để đối chiếu mô hình quản lý của quận Ba Đình với quận Hoàn Kiếm và huyện Thủy Nguyên (Hải Phòng), từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm sát thực với điều kiện đô thị trung tâm.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, hệ thống di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn quận Ba Đình sở hữu mật độ dày đặc và giá trị lịch sử đặc biệt tiêu biểu. Toàn quận có 73 di tích, bao gồm 18 đình, 13 chùa, 19 đền, 01 di tích lịch sử chiến thắng B52 hồ Hữu Tiệp và 22 di tích cách mạng kháng chiến. Tuy nhiên, sự phân bố không đồng đều giữa 14 phường: phường Nguyễn Trung Trực tập trung nhiều nhất với 15 di tích (chiếm 20,5%), tiếp đến là Ngọc Hà và Trúc Bạch với 10 di tích mỗi phường, trong khi phường Thành Công và Phúc Xá chỉ có 01 di tích mỗi nơi.

Thứ hai, tỷ lệ di tích được xếp hạng đạt mức cao vượt trội. Trong tổng số 73 di tích, có 56 di tích đã được xếp hạng chính thức (đạt tỷ lệ 76,7%), bao gồm 02 di tích quốc gia đặc biệt và di sản thế giới (Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long và Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch), 22 di tích cấp quốc gia và 32 di tích cấp thành phố; có 16/22 di tích cách mạng kháng chiến đã được gắn biển ghi nhớ sự kiện.

Thứ ba, thực trạng kỹ thuật của nhiều công trình đang ở mức báo động. Qua khảo sát thực địa, có khoảng 33,3% số di tích bị hư hỏng, xuống cấp các hạng mục chính. Một số di tích chịu mức độ hư hại nghiêm trọng từ 40% đến 80% kết cấu chịu lực, điển hình như đình Hữu Tiệp với trần bê tông nứt vỡ lộ cốt thép, hay chùa Am Cây Đề (chùa Thanh Ninh) bị thấm dột mái tam bảo và ẩm mốc diện rộng.

Thứ tư, nguồn lực kinh tế của quận tạo điều kiện thuận lợi cho công tác tôn tạo nhưng cơ chế phân bổ còn nhiều rào cản. Giai đoạn 2016–2020, thu ngân sách quận Ba Đình tăng gần 180% (từ hơn 4.000 tỷ đồng năm 2015 lên trên 8.000 tỷ đồng năm 2019), giá trị sản xuất ngành dịch vụ tăng bình quân 12,5%/năm. Mặc dù nguồn vốn xã hội hóa đã đóng góp tích cực vào việc trùng tu hàng chục di tích, việc huy động vốn ngoài ngân sách vẫn chưa khai thác hết tiềm năng của các doanh nghiệp trên địa bàn.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính của tình trạng xuống cấp bắt nguồn từ đặc tính vật liệu hữu cơ truyền thống (gỗ, ngói, gạch nung) dễ bị phong hóa dưới khí hậu nhiệt đới ẩm, kết hợp với tác động tiêu cực của mật độ dân số cao 24.703 người/km² gây xung đột không gian. Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ văn hóa cơ sở có nguồn đào tạo đa ngành (kiến trúc, sử học, văn hóa, quản trị), dẫn đến sự thiếu đồng bộ trong kỹ năng thẩm định dự án tu bổ theo Nghị định số 70/2012/NĐ-CP.

So sánh với mô hình quản lý tập trung của Ban Quản lý Phố cổ quận Hoàn Kiếm (quản lý 66 di tích) và mô hình quản lý di tích "3 không" (không hàng quán, không thu phí dịch vụ, không rác thải) gắn với cộng đồng tại huyện Thủy Nguyên, quận Ba Đình còn thiếu các sản phẩm du lịch trải nghiệm học đường và chuỗi liên kết dịch vụ di sản. Toàn bộ các phát hiện trên được hệ thống hóa trực quan thông qua 5 bảng số liệu trong luận văn, thể hiện rõ tương quan phân bố không gian, cấp độ bảo tồn và tiến độ các dự án tu bổ giai đoạn 2017–2020.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và cụ thể hóa quy chế quản lý di tích cấp cơ sở. Ủy ban nhân dân quận Ba Đình cần ban hành văn bản hướng dẫn phân cấp chi tiết cho 14 phường, xác định rõ thẩm quyền của từng vị trí công tác. Mục tiêu đến năm 2022 hoàn thành việc cắm mốc giới bảo vệ và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 100% các di tích lịch sử văn hóa đã xếp hạng, chấm dứt hoàn toàn tình trạng lấn chiếm đất đai di tích.

Thứ hai, ưu tiên bố trí ngân sách tu bổ khẩn cấp các công trình hư hỏng nặng. Phòng Văn hóa và Thông tin cùng Ban Quản lý dự án quận cần phối hợp lập hồ sơ kỹ thuật, tập trung nguồn vốn công để xử lý dứt điểm các di tích có tỷ lệ xuống cấp từ 40% đến 80% (như đình Hữu Tiệp, chùa Am Cây Đề) trong lộ trình 2021–2023, phấn đấu giảm tỷ lệ di tích xuống cấp toàn quận xuống dưới 5% vào năm 2025.

Thứ ba, nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ cán bộ công chức văn hóa. Phòng Nội vụ phối hợp với Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội tổ chức các khóa bồi dưỡng định kỳ về Luật Di sản văn hóa, kỹ năng quản lý dự án tu bổ và kiến thức bảo tàng học. Chỉ tiêu đặt ra là 100% công chức văn hóa - xã hội tại 14 phường được chuẩn hóa nghiệp vụ bảo tồn di sản hằng năm.

Thứ tư, đẩy mạnh cơ chế xã hội hóa và chuyển đổi số trong quản lý di sản. Ủy ban nhân dân quận cần xây dựng chính sách khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức tôn giáo và cộng đồng dân cư đóng góp tài chính theo nguyên tắc công khai, minh bạch, nâng tỷ trọng đóng góp xã hội hóa lên 40% đến 50% tổng kinh phí trùng tu. Đồng thời, triển khai gắn mã số hóa dữ liệu và mã QR thuyết minh tự động tại 73 di tích trong giai đoạn 2022–2024.

Thứ năm, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm. Thanh tra quận và Đội kiểm tra liên ngành văn hóa duy trì tần suất kiểm tra định kỳ tối thiểu 2 lần/năm đối với 100% di tích, xử lý nghiêm các hành vi tự ý sửa chữa làm biến dạng di tích, thu hồi các diện tích bị chiếm dụng trái phép.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là cán bộ, công chức làm công tác quản lý nhà nước tại Phòng Văn hóa và Thông tin, Phòng Nội vụ, Phòng Tài chính - Kế hoạch và Ủy ban nhân dân 14 phường thuộc quận Ba Đình. Luận văn cung cấp khung tham chiếu thực tiễn, số liệu kiểm kê chi tiết của 73 di tích và các quy trình phân cấp quản lý rõ ràng.

Nhóm thứ hai là các cơ quan quản lý văn hóa cấp thành phố và trung ương, bao gồm Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội, Cục Di sản văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch). Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo giá trị trong việc đánh giá tác động của Nghị định số 70/2012/NĐ-CP và xây dựng các chính sách quản lý di tích đô thị đặc thù.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh ngành Quản lý công, Quản lý văn hóa, Di sản học và Đô thị học tại các cơ sở đào tạo như Học viện Hành chính Quốc gia, Đại học Văn hóa Hà Nội. Công trình là nguồn tư liệu học thuật phong phú về phương pháp khảo sát thực chứng và xây dựng giải pháp chính sách công.

Nhóm thứ tư là các thành viên ban quản lý di tích cơ sở, các hiệp hội bảo tồn di sản, tổ chức phi chính phủ và các doanh nghiệp lữ hành khai thác tour du lịch văn hóa Thăng Long - Hà Nội, giúp tối ưu hóa việc liên kết tour tuyến tham quan và nâng cao ý thức cộng đồng.

Câu hỏi thường gặp

Tình trạng kỹ thuật chung của 73 di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn quận Ba Đình hiện nay ra sao? Khoảng một phần ba số di tích đang bị hư hỏng ở các mức độ khác nhau do tác động của thời gian và thời tiết. Trong đó, một số công trình có tỷ lệ hư hại kết cấu nghiêm trọng từ 40% đến 80% như đình Hữu Tiệp bị nứt sàn bê tông lộ thép hay chùa Am Cây Đề bị dột mái tam bảo. Tuy nhiên, các di tích trọng điểm như đền Quán Thánh, đền Voi Phục, chùa Hòe Nhai vẫn duy trì tình trạng kỹ thuật rất tốt nhờ được trùng tu kịp thời.

Quận Ba Đình có bao nhiêu di tích đã được xếp hạng cấp quốc gia và thành phố? Trong tổng số 73 di tích trên địa bàn quận, có 56 di tích đã được xếp hạng chính thức (tương đương 76,7%). Cụ thể gồm 02 di tích quốc gia đặc biệt và di sản thế giới (Hoàng thành Thăng Long và Phủ Chủ tịch), 22 di tích cấp quốc gia và 32 di tích cấp thành phố; ngoài ra có 16/22 di tích cách mạng kháng chiến đã được gắn biển chứng tích lịch sử.

Thách thức lớn nhất trong công tác quản lý di tích tại quận Ba Đình là gì? Thách thức lớn nhất là giải quyết mâu thuẫn giữa bảo tồn di sản nguyên gốc và áp lực gia tăng dân số với mật độ cao 24.703 người/km². Quỹ đất nội đô hạn hẹp làm tăng nguy cơ lấn chiếm khuôn viên di tích. Bên cạnh đó, nguồn vốn ngân sách cấp cho tu bổ còn dàn trải và đội ngũ cán bộ cơ sở có nguồn đào tạo đa ngành, chưa được chuẩn hóa chuyên sâu về kỹ thuật bảo quản di sản.

Mô hình quản lý di tích tại quận Ba Đình có điểm gì khác biệt so với quận Hoàn Kiếm? Quận Hoàn Kiếm thành lập Ban Quản lý Phố cổ chuyên trách trực tiếp quản lý các di tích trọng điểm như nhà di sản Mã Mây hay đình Kim Ngân gắn với không gian phố đi bộ. Ngược lại, quận Ba Đình thực hiện phân cấp quản lý di tích trực tiếp cho Ủy ban nhân dân 14 phường và các ban quản lý cơ sở, trong đó Phòng Văn hóa và Thông tin đóng vai trò cơ quan tham mưu, hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ.

Nguồn kinh phí bảo tồn và tu bổ di tích tại quận Ba Đình được huy động từ đâu? Kinh phí tu bổ được kết hợp giữa ngân sách Nhà nước và nguồn vốn xã hội hóa từ các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp và tiền công đức của nhân dân. Mặc dù thu ngân sách quận tăng trưởng mạnh gần 180% trong giai đoạn 2016–2020 đạt trên 8.000 tỷ đồng năm 2019, nguồn lực ngoài ngân sách vẫn giữ vai trò quyết định trong việc hỗ trợ trùng tu hàng chục công trình đình, chùa, đền tại các phường.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với di tích lịch sử văn hóa trong bối cảnh đô thị hóa nhanh tại trung tâm hành chính quốc gia.
  • Công trình cung cấp bức tranh thực trạng chi tiết về 73 di tích tại 14 phường quận Ba Đình, chỉ ra tỷ lệ xếp hạng đạt 76,7% cùng thực trạng 33,3% số công trình đang bị hư hỏng kỹ thuật.
  • Nghiên cứu đã làm rõ nguyên nhân của các hạn chế quản lý, bao gồm áp lực mật độ dân số 24.703 người/km², năng lực cán bộ đa nguồn và cơ chế phân bổ nguồn lực chưa linh hoạt.
  • Đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp đồng bộ và có tính khả thi cao, gắn liền với các mốc thời gian cụ thể giai đoạn 2021–2025 nhằm hoàn thiện thể chế, chuẩn hóa nhân sự và đẩy mạnh xã hội hóa.
  • Đóng góp nguồn tư liệu học thuật và thực tiễn phong phú cho công tác quản lý công, là tài liệu tham khảo thiết thực cho các nhà hoạch định chính sách, cán bộ văn hóa và các nhà nghiên cứu di sản.

Ủy ban nhân dân quận Ba Đình và các cơ quan văn hóa thành phố Hà Nội cần sớm thể chế hóa các khuyến nghị của luận văn vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021–2025, nhằm bảo tồn vững chắc các giá trị di sản lịch sử Thăng Long ngàn năm văn hiến.