Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ LỄ HỘI VÀ KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Những vấn đề chung về quản lý lễ hội 1. Một số khái niệm, thuật ngữ Khái niệm là quá trình nhận thức hay tư duy của con người, bắt đầu từ những tri giác hay bằng những quan sát sự vật hiện thực tác động vào giác quan. Khái niệm được xem là luận cứ lý thuyết quan trọng của nghiên cứu.
Trên cơ sở các sách, các công trình nghiên cứu đã xuất bản, học viên nêu một số khái niệm được sử dụng trong đề tài, đồng thời cũng nêu quan điểm của mình về khái niệm đó. Lễ hội Trong sách Nếp cũ - Hội hè đình đám của Toan Ánh, quan niệm lễ hội bằng bốn chữ: Hội - Hè - Đình - Đám. Căn cứ vào từ điển, Toan Ánh chú dẫn rằng: hội là cuộc vui tổ chức cho mọi người dự; hội hè chỉ chung các cuộc vui tổ chức cho mọi người dự; đình là nhà họp việc làng; đình đám chỉ những cuộc hội họp chốn thôn quê. Theo quan niệm của Toan Ánh: “hội hè đình đám là những cuộc tổ chức hội họp tại các xã thôn nhân dịp làng vào đám và trong dịp vào đám này có nhiều trò mua vui cho dân thôn giải trí.
Làng vào đám hàng năm để cúng lễ thần linh và nhân dịp này cũng để dân làng hội họp mua vui và tìm hiểu nhau” [3, tr. Tuy chưa đưa ra một khái niệm, nhưng Toan Ánh bước đầu đưa ra một cách hiểu khá đầy đủ, phù hợp với bản chất của lễ hội cổ truyền dân gian của người Việt. Có nhiều cách gọi và sự giải thích khác nhau về thuật ngữ lễ hội. Có người gọi lễ hội là hội lễ, có người gọi là hội hè hay hội hè đình đám và có người lại gọi là “lễ, tết, hội”…Tuy tên gọi có sự khác nhau nhưng các ý kiến đó, không mâu thuẫn mà về mặt nội dung thống nhất với nhau.
10 Trong cuốn sách Lễ hội truyền thống của các dân tộc Việt Nam khu vực phía Bắc, Hoàng Lương viết: “Lễ hội là một sinh hoạt văn hoá, tôn giáo, nghệ thuật truyền thống của cộng đồng” [32, tr. Trong cuốn Lễ hội truyền thống trong xã hội hiện đại, Đinh Gia Khánh cho rằng: “Trước hết phải nói rằng hội lễ là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng tất yếu nảy sinh trong xã hội loài người trên cơ sở một nhu cầu không thể thỏa mãn của con người sống thành xã hội. Hội lễ đã nảy sinh trong xã hội thị tộc, bộ lạc tức là dưới chế độ cộng sản nguyên thủy và sẽ còn là một hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng của xã hội cộng sản văn minh sau này” [27, tr. Ở cuốn sách Lễ hội truyền thống trong xã hội hiện đại, tác giả Đinh Gia Khánh viết: “Danh từ lễ hội nên được dùng như một thuật ngữ văn hóa.
Có thể sơ bộ xác định ý nghĩa của thuật ngữ này theo hai thành tố là hội và lễ. Hội là tập hợp đông người trong một sinh hoạt cộng đồng. Lễ là các nghi thức đặc thù gắn với sinh hoạt ấy” [27, tr. Trong cuốn Lễ hội Việt Nam trong sự phát triển du lịch, do Dương Văn Sáu biên soạn, Nxb Lao Động in năm 2007, đã đưa ra khái niệm về lễ hội: Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng diễn ra trên một địa bàn dân cư trong thời gian và không gian xác định; nhằm nhắc lại một sự kiện, nhân vật lịch sử hay huyền thoại; đồng thời là dịp để biểu hiện cách ứng xử văn hóa của con người với thiên nhiên - thần thánh và con người trong xã hội [43 , tr.
Theo chúng tôi tìm hiểu thì trước đây trong dân gian người ta thường nói là hội (hội đền Hùng, hội Gióng, hội Lim…) mà không gọi là lễ hội. Nhưng trong thực tiễn thì hội và lễ hội là đồng nhất. Lễ hội truyền thống là một tổng thể nguyên hợp của nhiều hoạt động văn hóa. Phần lễ là các nghi thức thể hiện đức tin, ý chí, tình cảm của cộng đồng vào một sự kiện, sự 11 vật, nhân vật, hiện tượng nào đó.
Phần hội là các sinh hoạt văn hóa thu hút đông đảo quần chúng tham gia biểu hiện tinh thần, sức sống của cộng đồng và các tài năng của thành viên. Trong lễ hội truyền thống thì lễ và hội không tách biệt hoàn toàn mà đan xen vào nhau. Nhưng lễ và hội cũng có thể tách biệt riêng từng phần, như một số lễ hội hiện đại, kết phần nghi thức theo truyền thống là chuyển sang phần hội, nhưng người ta không tổ chức phần hội. Là một sinh hoạt văn hóa của cộng đồng, lễ hội truyền thống dù biểu hiện dưới bất kỳ hình thức nào cũng phản ánh hiện thực đời sống xã hội, thể hiện tâm tư nguyện vọng, quan niệm của một tập thể, một cộng đồng về cuộc sống.
Lễ hội xuất hiện là một cách ứng xử khôn khéo với những thế lực siêu nhiên, vô hình của con người. Bản chất của lễ hội là phản ánh hiện thực khách quan, thông qua diễn xướng nguyên hợp và tổng hợp các hình thức nghệ thuật, phản ánh quan niệm thẩm mĩ của quần chúng nhân dân. Lễ hội truyền thống ở nước ta thường được tổ chức ở nơi thờ tự các vị thánh thần, tiên, phật… Lễ hội truyền thống thường gắn bó với làng xã vùng nông thôn làm nghề nông, những ngư dân đánh bắt cá và làng nghề thủ công. Sau năm 1945, lễ hội ở nước ta tiếp tục dòng chảy của các lễ hội truyền thống, đồng thời trong xã hội, với điều kiện sinh hoạt mới, đã xuất hiện những lễ hội mới, được gọi với cái tên chung là lễ hội hiện đại.
Ví dụ: Lễ hội kỷ niệm ngày Quốc khánh 2 - 9, Lễ hội Văn hóa - Thể thao - Du lịch, Lễ hội trái cây, Lễ hội Kỷ niệm 125 năm ngày thành lập tỉnh, lễ hội kỷ niệm 135 năm khởi nghĩa Yên Thế hay kỷ niệm 10 năm thành lập thành phố Bắc Giang… 1. Lễ hội Xương Giang. Theo các văn bản của Ủy ban nhân dân thành phố Bắc Giang gửi tới các đơn vị cơ quan chức năng ban, ngành thuộc thành phố để báo cáo và 12 thực hiện, đều ghi Lễ hội kỷ niệm 591 chiến thắng Xương Giang, hay Lễ hội kỷ niệm 592 năm chiến thắng Xương Giang. Tuy nhiên trên các trang thông tin điện tử của Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch, trên Báo Bắc Giang, cơ quan của Đảng bộ Đảng cộng sản tỉnh Bắc Giang đều viết: Lễ hội Bắc Giang.
Đặc biệt, Phòng Văn hóa - Thông tin thành phố Bắc Giang, đơn vị được Ủy ban nhân dân thành phố Bắc Giang giao nhiệm vụ thực hiện tổ chức, quản lý trực tiếp lễ hội, cũng viết rõ trong tài liệu Đền Xương Giang là Lễ hội Xương Giang. Trong luận văn chúng tôi sử dụng cum từ Lễ hội Xương Giang là viết tắt của tên gọi chính thức trong văn bản của Ủy ban nhân dân thành phố Bắc Giang ghi là: Lễ hội kỷ niệm 592 năm chiến thắng Xương Giang. Mỗi năm khi tổ chức lễ hội, số năm lại được ghi theo đúng thời gian trải dài theo lịch sử: 590 năm, 591 năm… 1. Quản lý Khái niệm quản lý được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến, tuy nhiên tùy theo cách tiếp cận mà có những quan niệm khác nhau.
Có quan niệm chỉ đơn giản cho rằng quản lý là cai trị. Về khái niệm quản lý, tác giả Cao Đức Hải quan niệm: “Quản lý là hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ định của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [21, tr. Trong cuốn Giáo trình xã hội học trong quản lý, (2001), do Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Trung tâm xã hội học biên soạn, viết: “Quản lý là quá trình tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể lên đối tượng theo một quy trình nhất định nhằm đạt được hiệu quả tối ưu so với yêu cầu đặt ra” [22, tr. Thành tố quan trọng nhất trong quản lý là chủ thể quản lý, quyết định mục đích, cách thức quản lý và lựa chọn công cụ quản lý.
Quản lý nhà nước có những đặc điểm: mang tính quyền lực đặc biệt, tính tổ chức cao; 13 có mục tiêu chiến lược, chương trình và kế hoạch thực hiện mục tiêu; có tính chủ động, sáng tạo và linh hoạt trong việc điều hành, phối hợp, huy động mọi lực lượng; có tính liên tục, tính tổ chức, tính thống nhất. Quản lý là một phương thức hoạt động có ý nghĩa của con người, là sự huy động, tổ chức và điều hành các nguồn lực của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã định trước. Các nguồn lực ở đây là công cụ, phương tiện như chính sách, pháp luật, thiết chế, nguồn thông tin, văn bản, cơ sở vật chất… Học viên quan niệm: quản lý là sự tác động liên tục, có tổ chức, có chủ đích của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý, nhằm đạt được mục đích mà chủ thể quản lý đề ra. Quản lý lễ hội Hoạt động quản lý lễ hội ở nước ta được hiểu đó là sự kiểm tra, giám sát, điều hành của cơ quan chức năng Nhà nước từ cấp trên xuống cấp dưới, bằng các chính sách cụ thể trong lĩnh vực lễ hội.
Hay nói cách khác, quản lý là một phương thức hoạt động có ý nghĩa của con người, là sự huy động, tổ chức và điều hành các nguồn lực của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý nhằm thực hiện đạt mục tiêu đã định trước. Từ quan niệm về quản lý, học viên quan niệm: quản lý lễ hội là sự tác động liên tục, có tổ chức, có chủ đích của chủ thể quản lý lễ hội lên khách thể quản lý, nhằm đạt được mục đích mà chủ thể quản lý lễ hội đặt ra. Quản lý nhà nước về lễ hội Trong sách Luật hành chính, Trần Minh Hương chủ biên, Trường Đại học Luật Hà Nội in năm 2006, viết: Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điểu chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với quá trình xã hội và hành vi hoạt động của công dân do các cơ quan nhà nước hành pháp từ Trung ương đến cơ sở tiến hành để thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của 14 Nhà nước, phát triển các mối quan hệ xã hội, duy trì trật tự an ninh, thỏa mãn những nhu cầu hằng ngày của nhân dân [25, tr.