CHƯƠNG 1 CO SO LY LUAN VE QUAN LY THU BHXH 1. KHAI QUAT VE BHXH VA QUAN LY THU BHXH 1. Khái niệm, đặc điểm của BHXH a. Khái niệm BHXH “Trên thế giới, hệ thống an sinh, BHXH ra đời khá sớm.
Ngay từ năm 1850, hệ thống BHXH đầu tiên đã được thiết lập tại nước Phổ (nay là Cộng, hòa Liên bang Đức), với sự tham gia của giới thợ trong bảo hiểm 6m đau, sau đó đã thu hút được mọi tầng lớp xã hội và mở rộng ra các trường hợp khác. Việc ban hành Luật BHYT năm 1883, Luật Bảo hiểm về rủi ro nghề nghiệp năm 1884 do Hiệp hội giới chủ quản lý, Luật Bảo hiểm tuổi già và bảo hiểm tàn tật năm 1889 do chính quyền các bang quản lý, với hoạt động dựa trên nền tảng của cơ chế đóng góp ba bên (NLĐ, giới chủ và nhà nước) đã đánh dấu bước phát triển mới của BHXH. Từ kinh nghiệm của Cộng hòa Liên bang Đức, hoạt động BHXH đã lan dần ra châu Âu vào đầu thế kỷ XX, sau đó đến các nước Mỹ La-tinh rồi Mỹ, Ca-na-đa vào những năm 30 của thế kỷ XX. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, BHXH tiếp tục là chính sách bảo đảm ASXH mang tính cộng đồng được áp dụng tại các nước giành được độc lập ở châu Á, châu Phi và vùng Ca-ri-bê trong nửa cuối thế kỷ XX.” Trong quá trình phát triển, BHXH đã trở thành một vấn đề quốc tế gắn với vai trò của Liên hợp quốc mà trực tiếp là Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) (Đến nay, ILO đã thông qua trên 180 céng ước và 190 khuyến nghị trong các lĩnh vực công việc của tổ chức này, www.org), là một trong những quyền cơ bản nhất của con người được ghi nhận trong Tuyên ngôn nhân quyền của Liên hợp quốc: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng BHXH, quyền đó được đặt cơ sở trên sự thỏa mãn các quyền về 10 kinh tế - xã hội và văn hóa, nhu cầu cho nhân cách và sự tự do phát triển của con người” [16].
Tính đến thời điểm hiện tại, theo ILO, trên thế giới có khoảng hơn 170 nước thực hiện chính sách BHXH, trong đó 155 nước (chiếm. 95%) nhưng chỉ có 63 nước (chiếm 38,6%) thực hiện hình thức bảo hiểm hưu trí, tai nạn lao động, ốm đau, thai sản. Ở Việt Nam, ngay từ năm 1929, trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản Đông Dương (một trong các tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam). đã nêu: “Tổ chức tất cả vô sản giai cấp và công hội, thực hành bảo hiểm cho.
thợ thuyền, giúp đỡ thợ thuyền thất nghiệp. Điều 7 Nghị quyết về giành chính quyền toàn quốc và thi hành 10 chính sách lớn của Việt Minh được thông qua tại kỳ họp Quốc dân Đại hội từ ngày 16 đến 17-8-1945 có viết: “Ban bố Luật Lao động; ngày làm 08 giờ, định lương tối u, đặt xã hội bảo hiểm” [6]. “Trên cơ sở này, ngay sau khi giành được chính quyền cách mạng, ngày 3-11-1945, Chủ tịch Hồ Chi Minh đã thay mặt Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 54-SL về ấn định các điều kiện cho công chức về hưu trí; ngày 14-6-1946 ban hành Sắc lệnh số 105-SL quy định về việc cấp hưu bông và đóng BHXH đối với công chức. Đây là hai văn bản pháp luật đầu tiên quy định về quyền lợi, mức hưởng hưu trí của công chức, khẳng định nguyên tắc đóng - hưởng của BHXH, quy định trách nhiệm bảo hộ của Nhà nước đối với Quy BHXH Kế thừa các quy định này, phù hợp với từng giai đoạn cách mạng của đất nước, tham khảo có chọn lọc pháp luật và kinh nghiệm quốc tế về BHXH, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều nghị quyết, văn bản pháp luật về BHXH, tiêu biểu như Nghị định số 235-HĐBT, ngày 18/9/1985, của Hội đồng Bộ trưởng về cải tiến chế độ tiền lương của công nhân, viên chức và các lực lượng vũ trang, bãi bỏ chế độ cung cấp hiện vật theo giá bù lỗ, chuyên sang chế độ trả lương bằng tiền do quỹ hàng hóa bảo đảm; Nghị định số 236- ll HĐBT, ngày 18/9/1985, của Hội đồng Bộ trưởng về bổ sung, sửa đổi một số chế độ, chính sách về thương binh xã hội; Luật BHXH năm 2006; Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 22/11/2012, của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công BHXH, BHYT giai đoạn 2012 - 2020; Chiến lược phát triển ngành BHXH Việt Nam đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1215/QĐ-TTg, ngày 23/7/2013; Luật BHXH năm 2014.
Mới đây nhất, cụ thể hóa các quan điểm chỉ đạo về ASXH tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, ngày 23/5/2018, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 28-NQ/TW về cải cách chính sách BHXH. Các quan điểm chỉ đạo nêu trên thể hiện tầm nhìn chiến lược có tính xuyên suốt đối với iệc phát triển BHXH trong hệ thống chính sách xã hội nhằm bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, coi đó vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển bền vững đất nước, thể hiện tính ưu việt, bản chất t đẹp của chế độ ta. Đến nay, đã hình thành hệ thống chính sách BHXH tương đối đồng bộ gồm bảo hiểm hưu trí - tử it, BHTN, bao 6m dau, thai san va bảo hiểm tai nạn lao động, cơ bản bao quát các chế độ BHXH theo thông lệ quốc tế BHXHBB và BHXHTN trong các ngành, thành phần kinh tế với các loại hình lao động khác nhau. Quỹ BHXH trở thành quỹ an sinh lớn nhất, hoạt động theo nguyên tắc đóng - hưởng và chia sẻ giữa những NLĐ cùng thế hệ và giữa các thế hệ tham gia BHXH.
Diện bao phủ BHXH theo quy định và quy mô tham gia BHXH được mở rộng, số người tham gia, số người được. hưởng BHXH tăng lên. Đến nay, có nhiều định nghĩa về Luật BHXH, bởi lẽ BHXH là đối tượng. nghiên cứu của nhiều môn khoa học khác nhau như kinh tế, xã hội, pháp lý 12 Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam "BHXH là sự đảm bảo, thay thế hoặc.
bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ khi họ mắt hoặc giảm thu nhập do bi 6m đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuôi gia, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tải chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật, nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho NLĐ và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội” Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đưa ra khái niệm về BHXH như sau: “BHXH là sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội dẫn đến việc ngừng hoặc giảm sút đáng kể về thu nhập gây ra bởi m đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già, và chết; đồng thời bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con”. Khái niệm này đã phản ánh được sự kết hợp hai mặt của BHXH là mặt kinh tế và mặt xã hội. Còn theo quan niệm của BHXH Việt Nam: “BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với NLĐ thông qua việc huy động các nguồn đóng góp đề trợ cấp cho. họ, nhằm khắc phục những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc bị giảm thu nhập gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn, thất nghiệp, mắt khả năng lao động, tuổi già và chết.
Đồng thời, bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho. các thân nhân trong gia đình NLĐ, để góp phần ôn định cuộc sống của bản thân NLD va gia đình, góp phần an toàn xã hội”. Theo Luật BHXH: “BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH.” 13 “Tóm lại các khái niệm, quan niệm nêu trên không có gì khác biệt. Tuy nhiên khái niệm về BHXH theoTừ điển Bách khoa được trình bày chỉ tiết phù hợp với cách tiếp cận BHXH có sự bảo hộ của nhà nước.
Quan niệm của BHXH Việt Nam đã phản ánh đầy đủ hai mặt của BHXH là mặt kinh tế và mặt xã hội, thể hiện bản chất của BHXH. Còn khái niệm BHXH theo Luật BHXH phù hợp hơn với xu thế của nền kinh tế mở, được khái quát một cách cao nhất, đầy đủ nhất từ khi có Luật BHXH. Đặc điểm của BHXH Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách nhà nước, được Nhà nước bảo hộ và bù thiếu. Mục đích tạo lập quỹ là dùng dé chi tra cho NLĐ, giúp họ ồn định cuộc sống khi gặp các biến có hoặc rủi ro.
Chủ thể của quy BHXH chính là những người tham gia đóng góp đẻ hình thành nên quỹ, do đó có thể bao gồm cả NLĐ, người SDLĐ và Nhà nước. Quỹ BHXH được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau: đóng góp của NLĐ. và người SDLĐ; sự hỗ trợ của Nhà nước và một số nguồn khác. Ở Việt Nam, Luật BHXH 2014 quy định thực hiện 5 chế độ trong 9 chế độ BHXH nêu trên (Óm đau; Thai sản; Tai nạn lao động & bệnh nghề nghiệp; Hưu trí; Tử tuất) Chế độ BHXH gồm 02 loại hình: BHXHBB và BHXHTN.
Loại hình BHXHBB, Luật BHXH Việt Nam quy định phải tham gia và được hưởng 5 chế độ BHXH như. đã đề cập Loại hình BHXHTN chỉ tham gia và được hưởng 02 chế độ Hưu trí; Tử tuất. Đối tượng tham gia BHXH Đối tượng tham gia BHXH là cá nhân hoặc tổ chức có trách nhiệm đóng góp để tạo lập nên quy BHXH. Nói cách khác, những NLĐ và người SDLĐ tham gia đóng góp vào quỳ BHXH đều là đối tượng tham gia BHXH.
14 Hoạt động BHXH được thực hiện bắt buộc ở hầu hết các nước trên thế giới. Nhưng có nước lại thực hiện cả BHXHBB và BHXHTN (ở Việt Nam hiện nay thực hiện cả 02 loại hình bảo hiểm này). Vì thế, cần xác định cụ thể hơn đối tượng tham gia BHXHBB và đối tượng tham gia BHXHTN - BHXHBB là loại hình BHXH mà NLĐ và người SDLĐ phải tham gia (được quy định cụ thể trong Điều 2, Luật BHXH và Điều 4, Quyết định số 595/QĐ-BHXH ngày 14/4/2017 của Tổng giám đốc BHXH Việt Nam).