Tổng quan nghiên cứu
Quản lý thu bảo hiểm xã hội là huyết mạch tài chính của toàn bộ hệ thống an sinh xã hội, giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm quyền lợi lâu dài cho người lao động và duy trì cân đối ngân sách nhà nước. Tại huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai – địa bàn có diện tích tự nhiên 642,96 km2 với dân số năm 2019 đạt 121.965 người, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 54,34% và lực lượng trong độ tuổi lao động chiếm 55,08% (khoảng 67.178 người) – công tác phát triển an sinh đối mặt với nhiều đặc thù phức tạp.
Giai đoạn 2015 - 2019, Bảo hiểm xã hội huyện Chư Sê đã ghi nhận những bước tiến tích cực khi số lượng đơn vị tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc tăng từ 155 đơn vị với 3.151 lao động (năm 2015) lên 231 đơn vị với 3.802 lao động (năm 2019), góp phần đưa tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế toàn huyện đạt 88% dân số. Tuy nhiên, công tác quản lý thu vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng: tỷ lệ doanh nghiệp trốn đóng hoặc chưa tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc năm 2019 vẫn ở mức cao với 25,89% (29 trên tổng số 112 doanh nghiệp đang hoạt động), số người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện chỉ đạt 201 người, và tình trạng nợ đọng kéo dài làm ảnh hưởng trực tiếp đến quỹ hưu trí, tử tuất.
Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá toàn diện thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội tại huyện Chư Sê trong giai đoạn 2015 - 2019, làm rõ các nguyên nhân cốt lõi từ nhận thức, quy trình nghiệp vụ đến chế tài thực thi. Từ đó, luận văn xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ và khả thi nhằm mở rộng đối tượng tham gia, nâng cao hiệu quả thu hồi nợ đọng, hướng tới mục tiêu hoàn thành 100% dự toán pháp lệnh và mở rộng diện bao phủ an sinh xã hội bền vững trên địa bàn huyện đến năm 2025.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng lý thuyết quản lý nhà nước về kinh tế của tác giả Phan Huy Đường (2015), khẳng định vai trò điều tiết, định hướng và kiểm soát của cơ quan công quyền đối với các hoạt động kinh tế - xã hội nhằm hướng tới sự công bằng và phát triển bền vững. Đồng thời, nghiên cứu kết hợp lý thuyết an sinh xã hội hiện đại cùng mô hình tổ chức thu bảo hiểm xã hội của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và các công trình của Dương Xuân Triệu (1999), Dương Văn Thắng (2014) để làm sáng tỏ cơ chế hình thành quỹ an sinh ngoài ngân sách nhà nước.
Năm khái niệm then chốt được chuẩn hóa xuyên suốt đề tài bao gồm:
- Bảo hiểm xã hội bắt buộc: Loại hình an sinh áp dụng cho người lao động và người sử dụng lao động thuộc diện luật định với 5 chế độ toàn diện (ốm đau, thai sản, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất).
- Bảo hiểm xã hội tự nguyện: Chính sách cho phép công dân từ đủ 15 tuổi trở lên tự lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập để hưởng 2 chế độ (hưu trí và tử tuất).
- Quản lý thu bảo hiểm xã hội: Hoạt động tổ chức, điều hành và giám sát của cơ quan bảo hiểm xã hội nhằm bảo đảm việc thu đúng, thu đủ, thu kịp thời các khoản đóng góp theo quy định.
- Nguyên tắc đóng - hưởng và chia sẻ: Cơ chế đảm bảo mức hưởng được tính toán trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng và sự san sẻ rủi ro giữa các thành viên cùng thế hệ cũng như giữa các thế hệ người lao động.
- Dự toán thu bảo hiểm xã hội: Bản kế hoạch dự báo, tính toán tổng số thu an sinh xã hội trong một chu kỳ tài chính nhằm bảo đảm cân đối thu - chi.
Nền tảng pháp lý của nghiên cứu căn cứ vào Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13, Luật Việc làm số 38/2013/QH13, Nghị quyết số 21-NQ/TW của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 28-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội, và Quyết định số 595/QĐ-BHXH của Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp toàn diện từ hồ sơ quản lý thu của 155 đến 231 đơn vị sử dụng lao động, hệ thống báo cáo quyết toán tài chính, báo cáo tổng kết định kỳ của Bảo hiểm xã hội huyện Chư Sê và Niên giám thống kê huyện giai đoạn 2015 - 2019.
Đối với dữ liệu sơ cấp, tác giả tiến hành điều tra khảo sát trực tiếp người lao động đang làm việc trên địa bàn. Quy mô mẫu nghiên cứu được xác định theo công thức xác định cỡ mẫu của Taro Yamane: n = N / (1 + N * e^2). Với tổng thể N = 3.802 người lao động tham gia bảo hiểm xã hội tính đến cuối năm 2019, độ tin cậy 95% và sai số tiêu chuẩn cho phép e = 8%, cỡ mẫu tính toán đạt chính xác n = 150 người. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống theo danh sách vần ABC được áp dụng để đảm bảo tính đại diện cao nhất cho toàn bộ các khối hành chính sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân.
Phương pháp phân tích số liệu kết hợp thống kê mô tả, so sánh tỷ lệ biến động chuỗi thời gian, phân tích dữ liệu trên phần mềm SPSS 20 và Microsoft Excel. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này nhằm đối chiếu khách quan giữa số thu dự toán pháp lệnh với số thu thực tế, kiểm định mức độ hài lòng của người tham gia và lượng hóa chính xác các chỉ tiêu công nợ, từ đó đưa ra các kết luận khoa học vững chắc.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, quy mô thu và đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc có sự tăng trưởng nhưng chưa khai thác hết dư địa thực tế. Số lượng đơn vị quản lý tăng từ 155 đơn vị (năm 2015) lên 231 đơn vị (năm 2019), đạt mức tăng trưởng 49,03%. Tổng số người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc tăng từ 3.151 người lên 3.802 người (tăng 20,66%). Tuy nhiên, khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh vẫn là mắt xích yếu nhất: năm 2015 có 31/64 doanh nghiệp tham gia (đạt 48,44%), đến năm 2019 có 83/112 doanh nghiệp tham gia (đạt 74,11%). Như vậy, còn 25,89% số doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn vẫn trốn tránh nghĩa vụ trích nộp bảo hiểm xã hội cho người lao động.
Thứ hai, công tác phát triển đối tượng bảo hiểm xã hội tự nguyện có chuyển biến tích cực ở cuối kỳ nhưng tỷ lệ bao phủ tổng thể còn rất thấp. Năm 2015, toàn huyện chỉ có 61 người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện với số thu 256,48 triệu đồng (đạt 98,38% kế hoạch giao). Nhờ đẩy mạnh ký kết hợp đồng đại lý thu với Bưu điện huyện từ cuối năm 2017, đến năm 2019 số người tham gia đã tăng vọt lên 201 người với tổng số tiền thu đạt 890,50 triệu đồng (vượt 13,87% kế hoạch giao). Mặc dù tốc độ tăng trưởng đạt 229,5% về số người so với năm 2015, nhưng con số 201 người chỉ chiếm khoảng 0,3% tổng lực lượng lao động toàn huyện.
Thứ ba, công tác lập dự toán và tổ chức thực hiện thu giữ vững được sự ổn định qua từng năm nhưng biên độ vượt kế hoạch rất hẹp. Tỷ lệ hoàn thành dự toán thu bảo hiểm xã hội bắt buộc trong giai đoạn 2015 - 2019 dao động từ 100,5% đến 102,22%. Điều này phản ánh công tác lập kế hoạch đã bám sát thực tế nhưng khả năng tạo đột phá trong mở rộng quỹ lương đóng bảo hiểm chưa cao.
Thứ tư, hoạt động tuyên truyền và thanh tra, kiểm tra được gia tăng mạnh mẽ về lượng. Số bài viết tuyên truyền tăng từ 26 bài (2015) lên 61 bài (2019), số lượt tổ chức hội nghị tập huấn tăng từ 12 lên 41 lượt, băng rôn áp phích tăng từ 14 lên 112 cái, và số lượt đối thoại trực tiếp với doanh nghiệp, xã phường tăng từ 2 lên 25 lượt. Hệ thống đại lý thu được củng cố lên 16 đại lý với 21 điểm thu và nhân viên thu phủ khắp địa bàn.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân của những hạn chế trên bắt nguồn từ cả yếu tố khách quan và chủ quan. Về mặt kinh tế - xã hội, huyện Chư Sê có 54,34% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số, tập quán canh tác nông nghiệp chiếm ưu thế với hơn 90% lao động gia nhập thị trường chưa qua đào tạo nghề, thu nhập phụ thuộc vào giá cả nông sản như hồ tiêu, cà phê, cao su. Về mặt quản lý, đội ngũ chuyên viên quản lý thu của cơ quan bảo hiểm xã hội huyện rất mỏng, chỉ có 04 cán bộ phụ trách theo dõi, đôn đốc 231 đơn vị sử dụng lao động. Chế tài xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi chậm đóng, nợ đọng tiền bảo hiểm theo Nghị định 21/2016/NĐ-CP chưa đủ sức răn đe.
Kết quả nghiên cứu này tương đồng với các phát hiện của tác giả Nguyễn Thị Minh Trang (2017) khi khảo sát tại địa bàn tỉnh Quảng Nam, chứng minh rằng khối doanh nghiệp tư nhân quy mô vừa và nhỏ luôn là khu vực tiềm ẩn tỷ lệ nợ đọng và trốn đóng cao nhất do áp lực chi phí sản xuất.
Để tối ưu hóa việc theo dõi quản lý, các phát hiện này nên được trực quan hóa thông qua biểu đồ cột chồng thể hiện cơ cấu đóng góp của 7 khối đơn vị (doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh, hành chính sự nghiệp, ngoài công lập, hợp tác xã, khối xã phường, hộ kinh doanh) và biểu đồ đường thể hiện tương quan giữa tốc độ gia tăng doanh nghiệp đăng ký mới với tốc độ tăng trưởng số lao động tham gia bảo hiểm thực tế. Việc kết hợp bảng số liệu ma trận nợ đọng theo thời gian (dưới 3 tháng, từ 3 đến 6 tháng, trên 6 tháng) sẽ giúp cơ quan quản lý nhận diện nhanh các điểm nóng thất thu để kịp thời áp dụng biện pháp cưỡng chế.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện Chư Sê, bốn nhóm giải pháp hành động cụ thể được đề xuất triển khai:
Thứ nhất, tăng cường liên thông dữ liệu và đẩy mạnh thanh tra liên ngành. Cơ quan Bảo hiểm xã hội huyện Chư Sê cần chủ trì ký kết quy chế phối hợp chia sẻ dữ liệu định kỳ hàng tháng với Chi cục Thuế và Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện. Đơn vị cần rà soát 100% doanh nghiệp mới đăng ký kinh doanh và quyết toán thuế, tiến hành thanh tra chuyên ngành đột xuất các đơn vị nợ đọng trên 3 tháng, phấn đấu nâng tỷ lệ doanh nghiệp tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc từ 74,11% lên trên 95% trước quý 4 năm 2023.
Thứ hai, đổi mới nội dung và phương thức truyền thông chính sách theo đặc thù nhân khẩu học. Ban Tuyên giáo Huyện ủy phối hợp với Bảo hiểm xã hội huyện biên soạn tài liệu truyền thông ngắn gọn, phát thanh song ngữ tiếng Kinh và tiếng Jrai trên hệ thống truyền thanh cơ sở. Mục tiêu tổ chức tối thiểu 50 hội nghị đối thoại trực tiếp mỗi năm tại các thôn, làng vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tạo bước chuyển biến giúp tăng trưởng số người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện ít nhất 30% mỗi năm trong giai đoạn 2021 - 2025.
Thứ ba, chuyên nghiệp hóa mạng lưới đại lý thu và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ. Tổ chức đào tạo, sát hạch cấp thẻ định kỳ cho 100% nhân viên tại 21 điểm thu của hệ thống Bưu điện và Ủy ban nhân dân xã, thị trấn. Gắn cơ chế khoán thù lao đại lý với chỉ tiêu duy trì người tham gia liên tục trên 12 tháng, bắt đầu áp dụng từ năm 2022.
Thứ tư, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và cải cách thủ tục hành chính. Cơ quan Bảo hiểm xã hội huyện Chư Sê cần phổ cập 100% giao dịch hồ sơ điện tử trong công tác thu và cấp sổ bảo hiểm tại tất cả các cơ quan hành chính, doanh nghiệp; rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ tiếp nhận tại bộ phận một cửa xuống dưới 3 ngày làm việc, ngăn chặn triệt để tình trạng sai sót và trùng lặp mã số an sinh.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nghiên cứu mang lại giá trị học thuật và thực tiễn sâu sắc cho bốn nhóm đối tượng chuyên môn:
- Ban Giám đốc và cán bộ chuyên quản thu thuộc hệ thống Bảo hiểm xã hội cấp huyện, cấp tỉnh: Luận văn cung cấp khung quy trình quản lý thu thực chứng, kinh nghiệm phân tầng nợ đọng và mô hình liên kết mạng lưới bưu điện xã để mở rộng diện bao phủ an sinh xã hội ở cấp cơ sở.
- Lãnh đạo Ủy ban nhân dân và các phòng ban quản lý nhà nước tại địa phương: Đề tài là tài liệu tham khảo quan trọng giúp Ủy ban nhân dân huyện Chư Sê và các huyện miền núi lân cận xây dựng chỉ tiêu phát triển bảo hiểm xã hội trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm, đồng thời hoạch định chính sách hỗ trợ mức đóng cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo.
- Giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản lý kinh tế, Quản lý công: Cung cấp nguồn tư liệu học thuật chuẩn xác, mô hình ứng dụng công thức mẫu Taro Yamane trong nghiên cứu an sinh xã hội cấp huyện cùng chuỗi số liệu thực tế giai đoạn 2015 - 2019.
- Chủ doanh nghiệp, cán bộ quản trị nhân sự và kế toán tiền lương: Giúp nắm vững các quy định pháp luật về trách nhiệm đóng nộp theo Luật Bảo hiểm xã hội 2014, hiểu rõ quy trình đối chiếu mẫu biểu C11, C12 nhằm chuẩn hóa chế độ tiền lương và hạn chế tối đa rủi ro xử phạt vi phạm hành chính.
Câu hỏi thường gặp
Thực trạng trốn đóng bảo hiểm xã hội của các doanh nghiệp tại huyện Chư Sê diễn ra như thế nào?
Tính đến năm 2019, toàn huyện Chư Sê có 112 doanh nghiệp đăng ký hoạt động nhưng chỉ có 83 doanh nghiệp tham gia đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động (đạt tỷ lệ 74,11%). Như vậy, vẫn còn 25,89% doanh nghiệp ngoài quốc doanh trốn tránh nghĩa vụ đóng bảo hiểm, khai báo giảm quỹ lương hoặc cắt giảm số lượng nhân sự thực tế nhằm giảm chi phí sản xuất.
Vì sao số người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện tại địa phương còn ở mức thấp?
Dù đã tăng từ 61 người (năm 2015) lên 201 người (năm 2019), quy mô tham gia vẫn chỉ chiếm 0,3% lực lượng lao động toàn huyện. Nguyên nhân chủ yếu do 54,34% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số, thu nhập bấp bênh từ nông nghiệp, công tác tuyên truyền đại trà chưa được bản địa hóa ngôn ngữ và nhân viên đại lý thu chưa đủ kỹ năng tư vấn chuyên sâu.
Việc lựa chọn cỡ mẫu 150 người lao động có đảm bảo độ tin cậy khoa học không?
Cỡ mẫu 150 hoàn toàn bảo đảm tính đại diện khoa học, được xác định chuẩn xác qua công thức Taro Yamane trên tổng thể 3.802 người tham gia bảo hiểm xã hội của huyện vào năm 2019. Với độ tin cậy 95% và sai số e = 8%, phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên theo danh sách vần ABC giúp phản ánh trung thực ý kiến đánh giá từ các khối đơn vị.
Mô hình đại lý thu Bưu điện đóng vai trò gì trong việc gia tăng nguồn thu an sinh?
Kể từ khi Bảo hiểm xã hội huyện Chư Sê ký hợp đồng đại lý thu với Bưu điện huyện cuối năm 2017, mạng lưới đã mở rộng lên 16 đại lý với 21 điểm thu tại 15 xã, thị trấn. Đây là đòn bẩy chính giúp số thu bảo hiểm xã hội tự nguyện năm 2019 đạt 890,50 triệu đồng, vượt 13,87% kế hoạch giao.
Quy trình lập dự toán thu bảo hiểm xã hội cấp huyện căn cứ vào những yếu tố nào?
Dự toán thu hàng năm của Bảo hiểm xã hội huyện Chư Sê được thiết lập theo công thức: Số tiền dự toán thu = Số lao động dự toán x Lương bình quân dự toán x Tỷ lệ đóng (%). Kế hoạch mẫu K01-TS được lập dựa trên số liệu thực hiện năm trước, biến động quỹ lương và gửi Bảo hiểm xã hội tỉnh trước ngày 15/7 hàng năm.
Kết luận
- Luận văn đã hệ thống hóa sâu sắc khung lý luận và chuẩn mực pháp lý về quản lý thu bảo hiểm xã hội trong bối cảnh cải cách an sinh xã hội theo Nghị quyết 28-NQ/TW.
- Phân tích chi tiết thực trạng quản lý thu tại huyện Chư Sê giai đoạn 2015 - 2019, phản ánh sự phát triển từ 155 đơn vị với 3.151 người lên 231 đơn vị với 3.802 người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.
- Nhận diện chính xác hai điểm nghẽn then chốt: 25,89% doanh nghiệp đang hoạt động chưa tham gia bảo hiểm xã hội và bảo hiểm xã hội tự nguyện mới chỉ đạt 201 người tham gia.
- Đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá, tập trung vào thanh tra liên ngành chia sẻ dữ liệu với cơ quan thuế, truyền thông song ngữ Kinh - Jrai, kiện toàn 21 điểm thu đại lý bưu điện và chuyển đổi số quy trình.
- Cung cấp cơ sở khoa học và hàm ý thực tiễn quý báu cho các nhà quản lý trong việc mở rộng diện bao phủ an sinh bền vững tại khu vực Tây Nguyên giai đoạn 2021 - 2025.
Đóng góp lớn nhất của công trình là xây dựng thành công mô hình quản lý thu thích ứng với địa bàn miền núi có tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số trên 54%. Các nhà quản lý, cơ quan an sinh xã hội và độc giả quan tâm hãy ứng dụng ngay các phát hiện và giải pháp của đề tài để tối ưu hóa hiệu quả quản lý thu bảo hiểm xã hội tại địa phương.