Luận văn Thạc sĩ: Quản lý thu Bảo hiểm xã hội tại huyện Chư Sê, Gia Lai

Luận văn thạc sĩ phân tích quản lý thu bảo hiểm xã hội tại huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý.

Chuyên ngành

Quản Lý Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2020

127
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan luận văn quản lý thu BHXH tại huyện Chư Sê Gia Lai

Luận văn thạc sĩ về quản lý thu bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội huyện Chư Sê tỉnh Gia Lai là một công trình nghiên cứu khoa học, chi tiết. Đề tài hệ thống hóa cơ sở lý luận quản lý thu BHXH, phân tích sâu sắc thực trạng giai đoạn 2015-2019 và đề xuất các giải pháp khả thi. Mục tiêu chính là hoàn thiện công tác thu BHXH, góp phần đảm bảo an sinh xã hội bền vững trên địa bàn. Bảo hiểm xã hội (BHXH) là trụ cột chính trong hệ thống an sinh xã hội, có vai trò ổn định cuộc sống cho người lao động (NLĐ) khi gặp rủi ro như ốm đau, tai nạn, mất việc làm hoặc khi về già. Quản lý thu BHXH hiệu quả không chỉ đảm bảo nguồn tài chính cho quỹ BHXH mà còn thể hiện tính ưu việt của chính sách nhà nước. Công tác thu BHXH ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng chi trả và sự cân đối của quỹ trong dài hạn. Nếu công tác thu không đạt hiệu quả, quỹ sẽ không có nguồn để chi trả các chế độ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của người tham gia. Do đó, việc nghiên cứu và tìm ra các giải pháp nâng cao hiệu quả thu là nhiệm vụ cấp thiết. Luận văn đã chỉ rõ, tại huyện Chư Sê, mặc dù đã có nhiều nỗ lực, công tác thu vẫn còn nhiều hạn chế như tỷ lệ nợ đọng cao, độ bao phủ BHXH tăng chậm, nhiều doanh nghiệp trên địa bàn chưa tham gia đầy đủ. Nghiên cứu này cung cấp một cái nhìn toàn diện, từ lý luận đến thực tiễn, làm cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách và triển khai các biện pháp quản lý tại cơ quan BHXH địa phương.

1.1. Khám phá cơ sở lý luận về quản lý thu bảo hiểm xã hội

Cơ sở lý luận của quản lý thu BHXH bao gồm các khái niệm, đặc điểm và vai trò của BHXH. Theo Luật Bảo hiểm xã hội, BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập. Quản lý thu BHXH là hoạt động của cơ quan BHXH nhằm đảm bảo các đơn vị, cá nhân thực hiện đúng nghĩa vụ nộp BHXH theo pháp luật. Nội dung quản lý thu bao gồm: tuyên truyền chính sách, lập dự toán thu, tổ chức thu, quản lý nợ, thanh tra, kiểm tra và quyết toán thu. Các nguyên tắc quản lý phải đảm bảo thu đúng, thu đủ, kịp thời, công khai, minh bạch và an toàn cho quỹ.

1.2. Vai trò then chốt của chính sách bảo hiểm xã hội tại Chư Sê

Chính sách bảo hiểm xã hội đóng vai trò quyết định đối với sự ổn định kinh tế - xã hội tại huyện Chư Sê. Việc thực hiện tốt chính sách này giúp ổn định cuộc sống cho NLĐ và gia đình họ, góp phần giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước khi xử lý các vấn đề xã hội. Đối với doanh nghiệp trên địa bàn, tham gia BHXH đầy đủ giúp ổn định sản xuất, giữ chân người lao động và thể hiện trách nhiệm xã hội. Một hệ thống an sinh xã hội vững mạnh, mà cốt lõi là BHXH, là nền tảng cho sự phát triển bền vững của địa phương.

II. Phân tích thực trạng thu bảo hiểm xã hội tại Chư Sê 2015 2019

Thực trạng thu bảo hiểm xã hội tại huyện Chư Sê giai đoạn 2015-2019 cho thấy nhiều kết quả tích cực nhưng cũng bộc lộ không ít thách thức. Luận văn đã chỉ ra, số đơn vị và số người tham gia BHXH bắt buộc có xu hướng tăng qua các năm. Cụ thể, năm 2015 có 155 đơn vị với 3.151 người tham gia, đến năm 2019 đã tăng lên 231 đơn vị với 3.802 người. Công tác lập dự toán và thực hiện dự toán thu hàng năm đều đạt và vượt chỉ tiêu được giao. Tuy nhiên, những thành công này chưa tương xứng với tiềm năng của địa phương. Một trong những hạn chế lớn nhất là quản lý nợ đọng BHXH. Tỷ lệ nợ đọng vẫn còn ở mức cao, nhiều doanh nghiệp cố tình chây ì, trốn đóng, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của hàng trăm người lao động. Bên cạnh đó, công tác phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện còn rất chậm. Số người tham gia BHXH tự nguyện năm 2019 chỉ đạt 201 người, một con số khiêm tốn so với dân số trong độ tuổi lao động của huyện. Các yếu tố ảnh hưởng đến thu BHXH bao gồm nhận thức của chủ sử dụng lao động và NLĐ còn hạn chế, công tác tuyên truyền chưa đủ sâu rộng, và sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng chưa thực sự chặt chẽ. Việc đánh giá hiệu quả công tác thu cho thấy cần có những giải pháp đột phá hơn để khắc phục các tồn tại này.

2.1. Các yếu tố kinh tế xã hội huyện Chư Sê tác động đến thu BHXH

Đặc điểm kinh tế - xã hội huyện Chư Sê có ảnh hưởng lớn đến công tác thu BHXH. Chư Sê là vùng kinh tế trọng điểm phía Nam của tỉnh Gia Lai, với thế mạnh về nông nghiệp cây công nghiệp. Tuy nhiên, phần lớn lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, lao động tự do, thu nhập không ổn định, khiến việc phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện gặp nhiều khó khăn. Số lượng doanh nghiệp tăng nhưng chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa, tiềm lực tài chính yếu, dẫn đến tình trạng nợ đọng, trốn đóng BHXH còn phổ biến. Nhận thức của một bộ phận dân cư, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số, về chính sách BHXH còn hạn chế.

2.2. Thách thức trong quản lý nợ đọng và phát triển đối tượng tham gia BHXH

Thách thức lớn nhất trong công tác thu BHXH tại Chư Sê là quản lý nợ đọng BHXH. Luận văn chỉ rõ, dù đã áp dụng nhiều biện pháp đôn đốc, quy trình thu nợ BHXH vẫn chưa đủ mạnh, chế tài xử phạt chưa đủ sức răn đe. Tình trạng doanh nghiệp giải thể, phá sản, chủ bỏ trốn để lại khoản nợ lớn rất khó xử lý. Đối với việc phát triển đối tượng, việc tiếp cận và vận động người dân tham gia BHXH tự nguyện còn gặp nhiều rào cản về thu nhập, thói quen và niềm tin. Cần có những cách tiếp cận mới, phù hợp hơn với từng nhóm đối tượng cụ thể.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả thu BHXH qua công tác truyền thông

Để khắc phục những hạn chế trong công tác thu BHXH, luận văn đề xuất nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thu bắt đầu từ việc đổi mới và đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách. Thực trạng thu bảo hiểm xã hội tại Chư Sê cho thấy một bộ phận không nhỏ người lao động và chủ doanh nghiệp chưa hiểu rõ quyền lợi và nghĩa vụ khi tham gia BHXH. Do đó, tuyên truyền không chỉ là phổ biến thông tin mà phải là quá trình làm thay đổi nhận thức và hành vi. Nội dung tuyên truyền cần được xây dựng một cách đa dạng, dễ hiểu, tập trung vào lợi ích thiết thực của chính sách. Thay vì các thông điệp chung chung, cần có tài liệu riêng cho từng nhóm đối tượng: chủ doanh nghiệp, người lao động trong khu vực chính thức, nông dân, lao động tự do. Cần nhấn mạnh BHXH là một khoản đầu tư cho tương lai, đảm bảo an sinh khi hết tuổi lao động hoặc không may gặp rủi ro. Hình thức tuyên truyền cũng cần được đa dạng hóa. Ngoài các kênh truyền thống như hội nghị, báo đài, cần tận dụng sức mạnh của mạng xã hội, các ứng dụng di động, tổ chức các buổi đối thoại trực tiếp tại cộng đồng, tại doanh nghiệp. Việc xây dựng đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên am hiểu sâu sắc chính sách bảo hiểm xã hội và có kỹ năng truyền đạt tốt là yếu tố then chốt để thông điệp đến được với người dân một cách hiệu quả nhất.

3.1. Đổi mới nội dung hình thức phổ biến Luật Bảo hiểm xã hội

Cần biên soạn các tài liệu tuyên truyền ngắn gọn, trực quan như infographic, video clip, tờ rơi với ngôn ngữ giản dị. Nội dung cần so sánh lợi ích giữa việc tham gia và không tham gia BHXH, làm rõ các chế độ hưởng như hưu trí, tử tuất, thai sản. Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về Luật Bảo hiểm xã hội trên địa bàn để tạo sức lan tỏa. Đối với vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số, cần có hình thức tuyên truyền song ngữ hoặc thông qua những người có uy tín trong cộng đồng.

3.2. Tăng cường phối hợp giữa cơ quan BHXH và các ban ngành

Cơ quan BHXH cần chủ động phối hợp chặt chẽ với Liên đoàn Lao động, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên để lồng ghép nội dung tuyên truyền chính sách vào các buổi sinh hoạt định kỳ. Phối hợp với cơ quan Thuế để nắm bắt danh sách doanh nghiệp mới thành lập, từ đó tiếp cận và vận động tham gia BHXH kịp thời. Sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp, giúp công tác thu BHXH đạt hiệu quả cao hơn.

IV. Phương pháp hoàn thiện quy trình quản lý thu nợ BHXH hiệu quả

Một trong những kiến nghị và giải pháp trọng tâm của luận văn là hoàn thiện công tác thu BHXH thông qua việc tối ưu hóa quy trình quản lý. Việc này đòi hỏi sự cải tiến đồng bộ từ khâu lập dự toán, tổ chức thu cho đến xử lý nợ đọng. Trước hết, công tác lập dự toán thu cần được thực hiện một cách khoa học hơn, dựa trên phân tích tốc độ phát triển kinh tế - xã hội huyện Chư Sê, dự báo số lượng doanh nghiệp mới và biến động lao động. Một dự toán sát thực tế sẽ là kim chỉ nam quan trọng cho hoạt động của cơ quan BHXH. Về tổ chức thu, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho doanh nghiệp và người dân khi tham gia và đóng BHXH. Giao dịch điện tử cần được khuyến khích để giảm thời gian và chi phí. Đặc biệt, đối với vấn đề nhức nhối là quản lý nợ đọng BHXH, cần có những biện pháp quyết liệt và đồng bộ. Cần phân loại các nhóm nợ (nợ do khó khăn tạm thời, nợ chây ì, nợ của doanh nghiệp sắp giải thể) để có phương án xử lý phù hợp. Cần xây dựng và thực hiện nghiêm ngặt quy trình thu nợ BHXH, từ việc gửi thông báo, đôn đốc, lập biên bản, cho đến việc áp dụng các biện pháp thanh tra chuyên ngành và đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật. Công khai danh tính các đơn vị nợ đọng lớn, kéo dài trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng là một biện pháp hiệu quả để tăng áp lực thu hồi nợ.

4.1. Tối ưu hóa công tác lập dự toán và tổ chức thu BHXH

Việc lập dự toán cần phối hợp chặt chẽ với Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Chi cục Thống kê để có số liệu chính xác về lực lượng lao động và tình hình hoạt động của doanh nghiệp. Về tổ chức thu, cần tăng cường đào tạo, nâng cao nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ thu, đảm bảo mỗi cán bộ là một chuyên gia có thể tư vấn, hướng dẫn tận tình cho các đơn vị, cá nhân trên địa bàn mình phụ trách.

4.2. Tăng cường thanh tra kiểm tra việc chấp hành Luật BHXH

Cần xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra định kỳ và đột xuất, tập trung vào các doanh nghiệp có nguy cơ nợ đọng cao, có dấu hiệu trốn đóng, đóng không đủ số người. Kết luận thanh tra phải rõ ràng, yêu cầu khắc phục cụ thể và có chế tài xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Sự nghiêm minh trong thanh tra, kiểm tra sẽ góp phần nâng cao ý thức tuân thủ Luật Bảo hiểm xã hội của các doanh nghiệp trên địa bàn.

V. Hướng dẫn phát triển đối tượng tham gia BHXH bắt buộc tự nguyện

Giải pháp mang tính chiến lược và bền vững nhất để tăng cường nguồn thu cho quỹ chính là phát triển đối tượng tham gia BHXH. Luận văn đã đề xuất các hướng đi cụ thể cho cả hai loại hình: BHXH bắt buộcBHXH tự nguyện. Đối với BHXH bắt buộc, mục tiêu là khai thác tối đa các đơn vị, doanh nghiệp đã hoạt động trên địa bàn nhưng chưa tham gia. Cơ quan BHXH cần phối hợp thường xuyên với cơ quan Thuế, cơ quan Đăng ký kinh doanh để rà soát, đối chiếu dữ liệu. Từ đó, lập danh sách các doanh nghiệp có sử dụng lao động nhưng chưa đăng ký tham gia BHXH để tiếp cận, hướng dẫn và yêu cầu thực hiện theo đúng quy định. Cần đặc biệt chú ý đến khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh, hộ kinh doanh cá thể có sử dụng lao động. Đối với BHXH tự nguyện, đây là một dư địa rất lớn tại Chư Sê, nơi có đông đảo lao động trong lĩnh vực nông nghiệp và lao động tự do. Để khai thác tiềm năng này, cần đa dạng hóa các gói tham gia linh hoạt, phù hợp với mức thu nhập không ổn định của người dân. Cần phát triển và nâng cao chất lượng hệ thống đại lý thu, coi họ là những “cánh tay nối dài” của cơ quan BHXH. Việc tổ chức các hội nghị khách hàng, các buổi tư vấn nhóm nhỏ tại thôn, làng sẽ hiệu quả hơn là các hoạt động tuyên truyền đại trà. Đánh giá hiệu quả công tác thu phải gắn liền với chỉ tiêu phát triển đối tượng mới.

5.1. Mở rộng diện bao phủ BHXH bắt buộc cho doanh nghiệp

Cần xây dựng cơ chế chia sẻ thông tin tự động giữa BHXH, Thuế và Kế hoạch & Đầu tư. Tổ chức các buổi đối thoại định kỳ với hiệp hội doanh nghiệp để giải đáp vướng mắc và phổ biến các quy định mới về chính sách bảo hiểm xã hội. Việc kiên quyết xử lý các đơn vị trốn đóng sẽ tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh, buộc các doanh nghiệp khác phải tuân thủ pháp luật.

5.2. Khai thác tiềm năng phát triển đối tượng BHXH tự nguyện

Nâng cao năng lực cho mạng lưới đại lý thu (Bưu điện, UBND xã) thông qua các lớp tập huấn nghiệp vụ và kỹ năng truyền thông. Xây dựng các mô hình, điển hình cá nhân tham gia BHXH tự nguyện thành công để lan tỏa trong cộng đồng. Cần có chính sách hỗ trợ thêm từ ngân sách địa phương (ngoài mức hỗ trợ của trung ương) để khuyến khích người dân có thu nhập thấp tham gia, góp phần đảm bảo an sinh xã hội lâu dài.

VI. Các kiến nghị và giải pháp cho tương lai quản lý thu BHXH Chư Sê

Từ những phân tích sâu sắc về thực trạng và nguyên nhân, luận văn đã đưa ra những kiến nghị và giải pháp mang tính hệ thống nhằm hoàn thiện công tác thu BHXH tại Chư Sê trong tương lai. Các kiến nghị này không chỉ giới hạn ở cấp huyện mà còn mở rộng ra cấp tỉnh và trung ương. Đối với cấp trung ương và cấp tỉnh, luận văn kiến nghị cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý, đặc biệt là các chế tài xử phạt hành vi trốn đóng, nợ đọng BHXH, cần tăng tính răn đe. Nghiên cứu sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội theo hướng linh hoạt hơn đối với người tham gia BHXH tự nguyện, có thể cho phép đóng theo quý, theo mùa vụ để phù hợp với đặc thù lao động nông nghiệp. Đối với Huyện ủy, UBND huyện Chư Sê, cần đưa chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia BHXH vào hệ thống chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội hàng năm của địa phương. Tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền trong việc thực thi chính sách bảo hiểm xã hội. Thành lập các đoàn kiểm tra liên ngành để giải quyết dứt điểm các vụ việc nợ đọng BHXH kéo dài. Đối với chính cơ quan BHXH huyện Chư Sê, cần tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đẩy mạnh cải cách hành chính và ứng dụng công nghệ thông tin. Việc thực hiện đồng bộ các giải pháp này sẽ tạo ra một bước chuyển biến mạnh mẽ, góp phần xây dựng một hệ thống an sinh xã hội bền vững trên địa bàn.

6.1. Đề xuất hoàn thiện chính sách vĩ mô và phối hợp liên ngành

Kiến nghị với BHXH Việt Nam và BHXH tỉnh Gia Lai cần xây dựng một cơ sở dữ liệu quốc gia liên thông về lao động, việc làm và BHXH để quản lý đối tượng một cách hiệu quả. Tăng cường phối hợp với ngành Tòa án, Thi hành án dân sự để đẩy nhanh quá trình khởi kiện và thi hành án đối với các doanh nghiệp nợ BHXH, bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người lao động.

6.2. Tầm nhìn phát triển công tác thu BHXH tại địa phương

Tầm nhìn đến năm 2025, BHXH huyện Chư Sê phấn đấu mở rộng diện bao phủ BHXH bắt buộc đạt trên 95% số doanh nghiệp đang hoạt động, giảm tỷ lệ nợ đọng xuống dưới mức bình quân chung của tỉnh. Đồng thời, tạo bước đột phá trong việc phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện. Để làm được điều này, cần xây dựng một đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp, tận tâm và một quy trình quản lý hiện đại, minh bạch và hiệu quả.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế quản lý thu bảo hiểm xã hội tại bảo hiểm xã hội huyện chư sê tỉnh gia lai

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CO SO LY LUAN VE QUAN LY THU BHXH 1. KHAI QUAT VE BHXH VA QUAN LY THU BHXH 1. Khái niệm, đặc điểm của BHXH a. Khái niệm BHXH “Trên thế giới, hệ thống an sinh, BHXH ra đời khá sớm.

Ngay từ năm 1850, hệ thống BHXH đầu tiên đã được thiết lập tại nước Phổ (nay là Cộng, hòa Liên bang Đức), với sự tham gia của giới thợ trong bảo hiểm 6m đau, sau đó đã thu hút được mọi tầng lớp xã hội và mở rộng ra các trường hợp khác. Việc ban hành Luật BHYT năm 1883, Luật Bảo hiểm về rủi ro nghề nghiệp năm 1884 do Hiệp hội giới chủ quản lý, Luật Bảo hiểm tuổi già và bảo hiểm tàn tật năm 1889 do chính quyền các bang quản lý, với hoạt động dựa trên nền tảng của cơ chế đóng góp ba bên (NLĐ, giới chủ và nhà nước) đã đánh dấu bước phát triển mới của BHXH. Từ kinh nghiệm của Cộng hòa Liên bang Đức, hoạt động BHXH đã lan dần ra châu Âu vào đầu thế kỷ XX, sau đó đến các nước Mỹ La-tinh rồi Mỹ, Ca-na-đa vào những năm 30 của thế kỷ XX. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, BHXH tiếp tục là chính sách bảo đảm ASXH mang tính cộng đồng được áp dụng tại các nước giành được độc lập ở châu Á, châu Phi và vùng Ca-ri-bê trong nửa cuối thế kỷ XX.” Trong quá trình phát triển, BHXH đã trở thành một vấn đề quốc tế gắn với vai trò của Liên hợp quốc mà trực tiếp là Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) (Đến nay, ILO đã thông qua trên 180 céng ước và 190 khuyến nghị trong các lĩnh vực công việc của tổ chức này, www.org), là một trong những quyền cơ bản nhất của con người được ghi nhận trong Tuyên ngôn nhân quyền của Liên hợp quốc: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng BHXH, quyền đó được đặt cơ sở trên sự thỏa mãn các quyền về 10 kinh tế - xã hội và văn hóa, nhu cầu cho nhân cách và sự tự do phát triển của con người” [16].

Tính đến thời điểm hiện tại, theo ILO, trên thế giới có khoảng hơn 170 nước thực hiện chính sách BHXH, trong đó 155 nước (chiếm. 95%) nhưng chỉ có 63 nước (chiếm 38,6%) thực hiện hình thức bảo hiểm hưu trí, tai nạn lao động, ốm đau, thai sản. Ở Việt Nam, ngay từ năm 1929, trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản Đông Dương (một trong các tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam). đã nêu: “Tổ chức tất cả vô sản giai cấp và công hội, thực hành bảo hiểm cho.

thợ thuyền, giúp đỡ thợ thuyền thất nghiệp. Điều 7 Nghị quyết về giành chính quyền toàn quốc và thi hành 10 chính sách lớn của Việt Minh được thông qua tại kỳ họp Quốc dân Đại hội từ ngày 16 đến 17-8-1945 có viết: “Ban bố Luật Lao động; ngày làm 08 giờ, định lương tối u, đặt xã hội bảo hiểm” [6]. “Trên cơ sở này, ngay sau khi giành được chính quyền cách mạng, ngày 3-11-1945, Chủ tịch Hồ Chi Minh đã thay mặt Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 54-SL về ấn định các điều kiện cho công chức về hưu trí; ngày 14-6-1946 ban hành Sắc lệnh số 105-SL quy định về việc cấp hưu bông và đóng BHXH đối với công chức. Đây là hai văn bản pháp luật đầu tiên quy định về quyền lợi, mức hưởng hưu trí của công chức, khẳng định nguyên tắc đóng - hưởng của BHXH, quy định trách nhiệm bảo hộ của Nhà nước đối với Quy BHXH Kế thừa các quy định này, phù hợp với từng giai đoạn cách mạng của đất nước, tham khảo có chọn lọc pháp luật và kinh nghiệm quốc tế về BHXH, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều nghị quyết, văn bản pháp luật về BHXH, tiêu biểu như Nghị định số 235-HĐBT, ngày 18/9/1985, của Hội đồng Bộ trưởng về cải tiến chế độ tiền lương của công nhân, viên chức và các lực lượng vũ trang, bãi bỏ chế độ cung cấp hiện vật theo giá bù lỗ, chuyên sang chế độ trả lương bằng tiền do quỹ hàng hóa bảo đảm; Nghị định số 236- ll HĐBT, ngày 18/9/1985, của Hội đồng Bộ trưởng về bổ sung, sửa đổi một số chế độ, chính sách về thương binh xã hội; Luật BHXH năm 2006; Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 22/11/2012, của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công BHXH, BHYT giai đoạn 2012 - 2020; Chiến lược phát triển ngành BHXH Việt Nam đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1215/QĐ-TTg, ngày 23/7/2013; Luật BHXH năm 2014.

Mới đây nhất, cụ thể hóa các quan điểm chỉ đạo về ASXH tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, ngày 23/5/2018, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 28-NQ/TW về cải cách chính sách BHXH. Các quan điểm chỉ đạo nêu trên thể hiện tầm nhìn chiến lược có tính xuyên suốt đối với iệc phát triển BHXH trong hệ thống chính sách xã hội nhằm bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, coi đó vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển bền vững đất nước, thể hiện tính ưu việt, bản chất t đẹp của chế độ ta. Đến nay, đã hình thành hệ thống chính sách BHXH tương đối đồng bộ gồm bảo hiểm hưu trí - tử it, BHTN, bao 6m dau, thai san va bảo hiểm tai nạn lao động, cơ bản bao quát các chế độ BHXH theo thông lệ quốc tế BHXHBB và BHXHTN trong các ngành, thành phần kinh tế với các loại hình lao động khác nhau. Quỹ BHXH trở thành quỹ an sinh lớn nhất, hoạt động theo nguyên tắc đóng - hưởng và chia sẻ giữa những NLĐ cùng thế hệ và giữa các thế hệ tham gia BHXH.

Diện bao phủ BHXH theo quy định và quy mô tham gia BHXH được mở rộng, số người tham gia, số người được. hưởng BHXH tăng lên. Đến nay, có nhiều định nghĩa về Luật BHXH, bởi lẽ BHXH là đối tượng. nghiên cứu của nhiều môn khoa học khác nhau như kinh tế, xã hội, pháp lý 12 Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam "BHXH là sự đảm bảo, thay thế hoặc.

bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ khi họ mắt hoặc giảm thu nhập do bi 6m đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuôi gia, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tải chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật, nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho NLĐ và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội” Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đưa ra khái niệm về BHXH như sau: “BHXH là sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội dẫn đến việc ngừng hoặc giảm sút đáng kể về thu nhập gây ra bởi m đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già, và chết; đồng thời bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con”. Khái niệm này đã phản ánh được sự kết hợp hai mặt của BHXH là mặt kinh tế và mặt xã hội. Còn theo quan niệm của BHXH Việt Nam: “BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với NLĐ thông qua việc huy động các nguồn đóng góp đề trợ cấp cho. họ, nhằm khắc phục những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc bị giảm thu nhập gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn, thất nghiệp, mắt khả năng lao động, tuổi già và chết.

Đồng thời, bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho. các thân nhân trong gia đình NLĐ, để góp phần ôn định cuộc sống của bản thân NLD va gia đình, góp phần an toàn xã hội”. Theo Luật BHXH: “BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH.” 13 “Tóm lại các khái niệm, quan niệm nêu trên không có gì khác biệt. Tuy nhiên khái niệm về BHXH theoTừ điển Bách khoa được trình bày chỉ tiết phù hợp với cách tiếp cận BHXH có sự bảo hộ của nhà nước.

Quan niệm của BHXH Việt Nam đã phản ánh đầy đủ hai mặt của BHXH là mặt kinh tế và mặt xã hội, thể hiện bản chất của BHXH. Còn khái niệm BHXH theo Luật BHXH phù hợp hơn với xu thế của nền kinh tế mở, được khái quát một cách cao nhất, đầy đủ nhất từ khi có Luật BHXH. Đặc điểm của BHXH Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách nhà nước, được Nhà nước bảo hộ và bù thiếu. Mục đích tạo lập quỹ là dùng dé chi tra cho NLĐ, giúp họ ồn định cuộc sống khi gặp các biến có hoặc rủi ro.

Chủ thể của quy BHXH chính là những người tham gia đóng góp đẻ hình thành nên quỹ, do đó có thể bao gồm cả NLĐ, người SDLĐ và Nhà nước. Quỹ BHXH được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau: đóng góp của NLĐ. và người SDLĐ; sự hỗ trợ của Nhà nước và một số nguồn khác. Ở Việt Nam, Luật BHXH 2014 quy định thực hiện 5 chế độ trong 9 chế độ BHXH nêu trên (Óm đau; Thai sản; Tai nạn lao động & bệnh nghề nghiệp; Hưu trí; Tử tuất) Chế độ BHXH gồm 02 loại hình: BHXHBB và BHXHTN.

Loại hình BHXHBB, Luật BHXH Việt Nam quy định phải tham gia và được hưởng 5 chế độ BHXH như. đã đề cập Loại hình BHXHTN chỉ tham gia và được hưởng 02 chế độ Hưu trí; Tử tuất. Đối tượng tham gia BHXH Đối tượng tham gia BHXH là cá nhân hoặc tổ chức có trách nhiệm đóng góp để tạo lập nên quy BHXH. Nói cách khác, những NLĐ và người SDLĐ tham gia đóng góp vào quỳ BHXH đều là đối tượng tham gia BHXH.

14 Hoạt động BHXH được thực hiện bắt buộc ở hầu hết các nước trên thế giới. Nhưng có nước lại thực hiện cả BHXHBB và BHXHTN (ở Việt Nam hiện nay thực hiện cả 02 loại hình bảo hiểm này). Vì thế, cần xác định cụ thể hơn đối tượng tham gia BHXHBB và đối tượng tham gia BHXHTN - BHXHBB là loại hình BHXH mà NLĐ và người SDLĐ phải tham gia (được quy định cụ thể trong Điều 2, Luật BHXH và Điều 4, Quyết định số 595/QĐ-BHXH ngày 14/4/2017 của Tổng giám đốc BHXH Việt Nam).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ