Tổng quan nghiên cứu

Bảo hiểm xã hội bắt buộc giữ vai trò then chốt trong hệ thống an sinh xã hội, là cơ chế tài chính vững chắc bảo vệ người lao động trước các rủi ro việc làm, ốm đau, thai sản và tuổi già. Tại quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, tính đến cuối năm 2018, dân số toàn quận đạt 171.635 người, trong đó lực lượng trong độ tuổi lao động là 90.612 người (chiếm 52,8% tổng dân số). Dù địa phương đang trong thời kỳ dân số vàng với ngành dịch vụ biển phát triển nhanh, công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc vẫn gặp nhiều trở ngại lớn.

Cơ quan Bảo hiểm xã hội quận Sơn Trà hiện quản lý 1.513 đơn vị sử dụng lao động với 27.438 người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Đáng chú ý, tình trạng nợ đọng diễn ra nghiêm trọng với 702 đơn vị nợ trên 3 tháng (chiếm 46,05% tổng số đơn vị) và 70 đơn vị nợ kéo dài trên 3 năm gần như không thể thu hồi (chiếm 4,6%). Vấn đề xuất phát từ việc 96,23% doanh nghiệp trên địa bàn là các đơn vị siêu nhỏ dưới 10 lao động, hoạt động thiếu ổn định và ý thức tuân thủ pháp luật chưa cao.

Nghiên cứu được thực hiện nhằm hệ thống hóa lý luận quản lý thu bảo hiểm xã hội, phân tích thực trạng giai đoạn 2016 - 2018, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện đến năm 2020. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, giúp quận Sơn Trà từng bước nâng tỷ lệ bao phủ bảo hiểm xã hội hướng tới mốc 50% lực lượng lao động theo Nghị quyết 21-NQ/TW và kéo giảm tỷ lệ nợ đọng về ngưỡng an toàn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu dựa trên lý luận quản lý nhà nước về kinh tế, lý thuyết an sinh xã hội và phân phối lại thu nhập quốc dân. Bảo hiểm xã hội bắt buộc là chính sách công phi lợi nhuận vận hành theo nguyên tắc có đóng - có hưởng, chia sẻ rủi ro nhằm bù đắp thu nhập cho người lao động khi gặp rủi ro sức khỏe hoặc hết tuổi lao động.

Khung khái niệm bám sát Công ước số 102 năm 1952 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về 09 chế độ an sinh xã hội, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 và Quyết định số 595/QĐ-BHXH năm 2017. Theo quy định từ tháng 6/2017, mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc bằng 25% tiền lương tháng (người sử dụng lao động đóng 17%, người lao động đóng 8%), giảm so với mức 26% trước đó. Quy trình quản lý thu gồm 5 nội dung chính: xác định đối tượng và mức thu, lập dự toán, tổ chức thu, quyết toán và thanh tra, kiểm tra. Hiệu quả quản lý được đánh giá qua 3 chỉ tiêu: tỷ lệ hoàn thành kế hoạch thu, tỷ lệ nợ đọng và tốc độ tăng trưởng đối tượng tham gia.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp giai đoạn 2016 - 2018. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ báo cáo quản lý thu của Bảo hiểm xã hội quận Sơn Trà, Niên giám thống kê quận và các văn bản pháp quy như Nghị quyết 21-NQ/TW, Nghị định 88/2015/NĐ-CP, Nghị định 95/2013/NĐ-CP.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập qua bảng khảo sát 12 câu hỏi. Từ tổng thể 27.523 người tham gia bảo hiểm xã hội năm 2018, tác giả áp dụng công thức Yamane với độ tin cậy 95% và sai số 0,08 để xác định cỡ mẫu 138 đối tượng. Quá trình điều tra đã phát đi 165 phiếu qua kênh trực tiếp và trực tuyến, thu về 140 phiếu hợp lệ gồm: 21 cán bộ Bảo hiểm xã hội quận, 30 nhân viên nhân sự doanh nghiệp và 89 người lao động. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng cùng kỹ thuật phân tích thống kê mô tả, so sánh trên phần mềm SPSS và Excel được lựa chọn nhằm lượng hóa chính xác các nhân tố ảnh hưởng, bảo đảm tính khách quan và khoa học cho các kết luận.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô thu và số người tham gia tăng trưởng liên tục nhưng tỷ lệ bao phủ còn khiêm tốn. Đến cuối năm 2018, toàn quận có 27.438 lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc (tăng 6,9% so với năm 2016), nhưng mới chỉ bao phủ khoảng 30,2% trong tổng số 90.612 người ở độ tuổi lao động.

Thứ hai, đặc thù doanh nghiệp nhỏ chiếm tỷ lệ áp đảo. Trong 1.513 đơn vị tham gia, có tới 96,23% là doanh nghiệp ngoài quốc doanh có dưới 10 lao động. Nhóm đơn vị này thường xuyên biến động nhân sự, tiềm ẩn rủi ro trốn đóng bảo hiểm cao.

Thứ ba, nợ đọng kéo dài với quy mô lớn. Năm 2018 có 702 đơn vị nợ tiền bảo hiểm trên 3 tháng (chiếm 46,05% tổng số đơn vị) và 70 đơn vị nợ trên 3 năm không có khả năng thanh toán (chiếm 4,6%), trực tiếp xâm phạm quyền lợi an sinh của người lao động.

Thứ tư, công tác thanh tra và chế tài xử lý chưa đủ sức răn đe. Các cuộc kiểm tra liên ngành còn ít; chế tài xử lý hình sự theo Điều 216 Bộ luật Hình sự (phạt tiền từ 200 triệu đồng đến 3 tỷ đồng hoặc phạt tù) chưa được áp dụng trên thực tế tại địa phương.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chủ yếu do cơ cấu kinh tế quận chuyển dịch mạnh sang du lịch, dịch vụ (giá trị sản xuất thương mại dịch vụ năm 2017 đạt 5.689 tỷ đồng) tạo ra nhiều việc làm thời vụ thiếu ổn định. Ý thức chấp hành luật của chủ doanh nghiệp còn thấp, thường kê khai lương tối thiểu để giảm tiền đóng; trong khi người lao động thiếu hiểu biết hoặc thỏa thuận không tham gia để nhận tiền mặt.

Bên cạnh đó, bộ máy Bảo hiểm xã hội quận Sơn Trà chỉ có 22 cán bộ năm 2018 (trong đó 17 người có trình độ đại học và sau đại học, chiếm 77,3%) phải quản lý 1.513 đơn vị và 27.438 lao động, tạo ra áp lực công việc quá tải.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa tối ưu qua biểu đồ cột chồng thể hiện 702 đơn vị nợ theo thời gian, kết hợp biểu đồ tròn tỷ trọng 96,23% doanh nghiệp siêu nhỏ. So với các nghiên cứu tại Quảng Ninh hay Bến Tre, quận Sơn Trà có tỷ lệ biến động lao động cao hơn khoảng 15% do đặc thù ngành du lịch biển, đòi hỏi giải pháp quản lý chuyên biệt.

Đề xuất và khuyến nghị

Nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc tại quận Sơn Trà:

Thứ nhất, hoàn thiện quản lý đối tượng thu và kiểm soát mức tiền lương đóng bảo hiểm. Bảo hiểm xã hội quận Sơn Trà cần phối hợp Chi cục Thuế và Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội đối soát dữ liệu định kỳ từ quý I/2019. Mục tiêu rà soát 100% doanh nghiệp mới thành lập, nâng diện bao phủ bảo hiểm xã hội tăng 5% - 8% mỗi năm, đạt trên 40% lực lượng lao động vào năm 2020.

Thứ hai, nâng cao chất lượng dự toán thu và đẩy mạnh thu nộp điện tử. Bộ phận Kế toán - Thu Bảo hiểm xã hội quận cần lập dự toán sát với tính chu kỳ của ngành du lịch dịch vụ. Mở rộng giao dịch hồ sơ điện tử và thu nộp qua ngân hàng, hướng tới mục tiêu 98% giao dịch trực tuyến và hoàn thành 100% - 102% kế hoạch thu giai đoạn 2019 - 2020.

Thứ ba, tăng cường thanh tra liên ngành và kiên quyết xử lý nợ đọng. Đoàn liên ngành Ủy ban nhân dân quận cần thanh tra đột xuất tối thiểu 15% đơn vị nợ trên 3 tháng mỗi năm; công khai 70 đơn vị nợ khó thu trên cổng thông tin; phối hợp cơ quan Công an lập hồ sơ xử lý hình sự theo Điều 216 Bộ luật Hình sự đối với hành vi trốn đóng. Mục tiêu đưa tỷ lệ nợ bảo hiểm xã hội xuống dưới 3% từ năm 2020.

Thứ tư, đổi mới tuyên truyền và nâng cao năng lực cán bộ. Bảo hiểm xã hội quận phối hợp Liên đoàn Lao động tuyên truyền qua mạng xã hội, Zalo và đối thoại trực tiếp tại doanh nghiệp. Đồng thời, tổ chức bồi dưỡng kỹ năng phần mềm TST và nghiệp vụ hậu kiểm cho 100% trong số 22 cán bộ viên chức, nâng tỷ lệ hiểu biết chính sách của người lao động từ 55% lên trên 85%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, cơ quan Bảo hiểm xã hội cấp quận, huyện và thành phố: Khai thác mô hình quản lý thu, kỹ thuật lập dự toán theo mùa vụ kinh tế và phương thức kiểm soát nợ đọng đối với 1.513 đơn vị sử dụng lao động.

Thứ hai, cán bộ hoạch định chính sách an sinh xã hội: Sử dụng dữ liệu thực chứng về khoảng trống phối hợp liên ngành Thuế - Bảo hiểm xã hội - Lao động để hoàn thiện cơ chế quản lý và chế tài xử phạt đối với khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh.

Thứ ba, giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Quản lý kinh tế, Quản trị nhân lực, Tài chính công: Tham khảo phương pháp nghiên cứu hỗn hợp chuẩn mực, công thức chọn mẫu Yamane trên cỡ mẫu 140 đối tượng và quy trình phân tích định lượng SPSS.

Thứ tư, chủ doanh nghiệp và cán bộ quản trị nhân sự: Nắm vững quy định mức đóng 25%, trình tự trích nộp theo Luật Bảo hiểm xã hội 2014, giúp phòng ngừa rủi ro thanh tra và bảo đảm quyền lợi lâu dài cho 27.438 người lao động.

Câu hỏi thường gặp

Thực trạng nợ đọng bảo hiểm xã hội tại quận Sơn Trà diễn ra như thế nào? Năm 2018, quận Sơn Trà ghi nhận 702 đơn vị nợ bảo hiểm xã hội từ 3 tháng trở lên, chiếm 46,05% tổng số 1.513 đơn vị tham gia. Trong đó, có 70 đơn vị nợ dây dưa trên 3 năm không có khả năng thu hồi (chiếm 4,6%), ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi thai sản, ốm đau của người lao động.

Tại sao doanh nghiệp quy mô nhỏ tại quận Sơn Trà chiếm tỷ lệ nợ bảo hiểm xã hội cao? Địa bàn quận có 96,23% doanh nghiệp quy mô dưới 10 lao động, tập trung trong ngành du lịch biển mang tính mùa vụ. Năng lực tài chính bấp bênh, biến động nhân sự lớn cùng tâm lý coi tiền bảo hiểm là chi phí phát sinh khiến các đơn vị này thường xuyên nợ hoặc trốn đóng.

Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc hiện nay được quy định như thế nào? Theo Quyết định số 595/QĐ-BHXH, từ tháng 6/2017, mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc bằng 25% tiền lương tháng của người lao động (người sử dụng lao động đóng 17%, người lao động đóng 8%). Đơn vị trích nộp hàng tháng vào tài khoản chuyên thu của cơ quan bảo hiểm xã hội tại Kho bạc Nhà nước hoặc ngân hàng.

Phương pháp khảo sát của luận văn được thực hiện ra sao để bảo đảm độ tin cậy? Từ tổng thể 27.523 người tham gia bảo hiểm xã hội năm 2018, tác giả dùng công thức Yamane với sai số 0,08 để chọn cỡ mẫu 140 phiếu hợp lệ (21 cán bộ bảo hiểm xã hội, 30 nhân sự doanh nghiệp, 89 người lao động). Dữ liệu được xử lý bằng SPSS và Excel, đảm bảo tính đại diện khoa học.

Biện pháp mạnh nhất để xử lý hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội là gì? Biện pháp răn đe cao nhất là chuyển hồ sơ sang cơ quan Công an để xử lý hình sự theo Điều 216 Bộ luật Hình sự năm 2015. Doanh nghiệp vi phạm có thể bị phạt tiền từ 200 triệu đồng đến 3 tỷ đồng, cá nhân người sử dụng lao động có thể bị phạt tù đến 7 năm.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận quản lý thu bảo hiểm xã hội bắt buộc, chuẩn hóa quy trình 5 bước và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả thu nộp.
  • Bức tranh thực tế tại quận Sơn Trà giai đoạn 2016 - 2018 cho thấy quy mô tham gia đạt 27.438 lao động trên 1.513 đơn vị, song độ bao phủ mới đạt 30,2% lực lượng lao động.
  • Tồn tại lớn nhất là 96,23% doanh nghiệp có quy mô dưới 10 lao động, dẫn đến 702 đơn vị nợ trên 3 tháng (46,05%) và 70 đơn vị nợ khó thu trên 3 năm (4,6%).
  • Tác giả đóng góp hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ về quản lý đối tượng, dự toán thu, thanh tra liên ngành và bồi dưỡng đội ngũ 22 cán bộ.
  • Lộ trình thực hiện trọng tâm trong giai đoạn 2019 - 2020 nhằm kiểm soát nợ đọng dưới 3% và đưa diện bao phủ bảo hiểm xã hội đạt trên 40% lực lượng lao động.

Nghiên cứu là tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm đến lĩnh vực an sinh xã hội. Hãy tham khảo toàn văn luận văn để tiếp cận đầy đủ hệ thống dữ liệu, mô hình phân cấp và giải pháp quản trị chuyên sâu.