Chương I: Lý luận chung về quản lý chỉ bảo hiểm xã hội bắt buộc. Chương 2: Thực trạng quản lý chỉ bảo hiểm xã hội bắt buộc tại Bảo. hiểm xã hội thành phố Pleiku - tỉnh Gia Lai. Chương 3: Một số giải pháp giúp hoàn thiện quản lý chỉ bảo hiểm xã hội bắt buộc tại Bảo hiểm xã hội thành phố Pleiku — tỉnh Gia Lai.
CHUONG 1 LY LUAN CHUNG VE QUAN LY CHI BAO HIEM XA HOI 1. KHAI QUAT VE QUAN LY CHI BHXH 1. Một số khái niệm a. Bao hiém xã hội Trong hoạt động của đời sống xã hội cũng như trong hoạt động sản xuất kinh doanh, ngoài những biến cố đã được con người tính toán một cách khoa học và được dự báo trước, con người luôn luôn phải đối mặt với những rủi ro bắt ngờ có thể xảy ra do nhiều nguyên nhân như: thiên tai (bão lụt, động đất, hạn hán.), tai nạn giao thông, tai nạn nghề nghiệp, ốm đau, dịch bệnh, hỏa hoạn.
Những bất trắc, rủi ro đó thường gây nên những hậu quả khó lường, làm ảnh hưởng đến đời sống xã hội, hoạt động sản xuất và ảnh hưởng. tới sức khoẻ của con người. Bởi vậy, ngay từ khi xã hội loài người xuất hiện thì nhu cầu an toàn đối với con người cũng xuất hiện và đó là một trong những nhu cầu vĩnh cửu. BHXH ra đời đã trở thành giải pháp hữu hiệu giúp con người vượt qua những khó khăn, rủi ro trong cuộc sống và trong quá trình lao động.
Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) thì nước đầu tiên trên thế giới ban hành chế độ bảo hiểm ốm đau vào năm 1883 là nước Phổ (nay thuộc Cộng hòa Liên bang Đức), đánh dấu sự ra đời của BHXH. Tổ chức này đã đưa ra khái niệm: BHXH là hình thức bảo trợ mà xã hội dành cho các thành viên của mình thông qua nhiều biện pháp công nhằm tránh tình trạng khó khăn về mặt kinh tế và xã hội do bị mắt hoặc giảm đáng kể thu nhập vì bệnh tật, thai sản, TNLĐ, MSLĐ và tử vong; chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình có con nhỏ [2] 10 Bộ Lao động Thương binh và Xã hội lại cho rằng: BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phan thu nhập cho NLĐ khi họ bi mat hoặc giảm khoản thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc mắt việc làm do những rủi ro xã hội thông qua việc hình thành, sử dụng. một quỳ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, nhằm góp phan đảm bảo an toàn đời sống của NLD và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội.7] Khái niệm BHXH được khái quát một cách đầy đủ nhất trong Luật BHXH năm 2014 như sau: "Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mắt thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuôi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội". [4] Các khái niệm nêu trên cho thấy BHXH là một vấn đề kinh tế, xã hội tổng hợp có thể tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau: ~_ Nghiên cứu dưới góc độ chính sách: BHXH là một chính sách xã hội, nhằm giải quyết các chế độ xã hội liên quan đến một tầng lớp đông đảo.
NLD va bảo vệ sự phát triển kinh tế - xã hội, sự ổn định chính trị quốc gia. - _ Nghiên cứu dưới góc độ tài chính: BHXH là một quỹ tài chính tập trung, được hình thành từ sự đóng góp của các bên tham gia và có sự hỗ trợ của Nhà nước. -_ Nghiên cứu dưới góc độ thu nhập: BHXH là sự đảm bảo thay thế một phan thu nhập khi NLĐ có tham gia BHXH bị mắt hoặc giảm thu nhập. -_ Nghiên cứu dưới góc độ quản lý: BHXH là công cụ quản lý của Nha nước đề điều chỉnh mối quan hệ kinh tế giữa NLĐ, người SDLĐ và Nhà nước; thực hiện quá trình phân phối và phân phối lại thu nhập giữa các thành.
viên trong xã hội. 11 Khái niệm BHXH được sử dụng trong toàn bộ nghiên cứu của luận văn là khái niệm BHXH đã được ghi trong Luật BHXH. Luật BHXH quy định ba loại hình BHXH, bao gồm BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện và BH thất nghiệp. Khái niệm Bảo hiểm xã hội bắt buộc được hiểu như sau: Bảo hiểm xã hội bắt buộc: là loại hình BHXH mà NLĐ và người SDLĐ phải tham gia.
Chỉ bảo hiểm xã hội Có thể thấy chỉ BHXH là một trong những nhiệm vụ trung tâm và đóng. vai trò rất quan trọng trong hoạt động của ngành BHXH. Chi bảo hiểm xã hội được hiểu là việc cơ quan Nhà nước (cụ thể là cơ quan bảo hiếm xã hội) sử dụng số tiền thuộc nguồn Ngân sách Nhà nước và nguồn quỹ bảo hiếm xã hội để chỉ trả các chế độ bảo hiểm xã hội cho đối tượng thụ hưởng theo luật định I9 Chi BHXH là quá trình phân phối, sử dụng quỳ BHXH để chỉ trả cho các chế độ BHXH nhằm ồn định cuộc sống của người tham gia BHXH và đảm bảo các hoạt động của hệ thống BHXH. Đó là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã được tập trung vào quỳ BHXH.
Quá trình phân phối được thực hiện theo từng mục đích sử dụng nhất định. [4] Chi BHXH được thực hiện bởi hai quá trình: Phân phối và sử dụng quỹ BHXH. Phân phối quỹ BHXH là quá trình phân bô các nguồn tài chính từ quỹ BHXH để hình thành các quỹ thành phần như: Quỹ hưu trí, tử tuất; quỹ ốm. đau, thai sản; quỹ TNLĐ — BNN hoặc phân bổ cho các mục đích sử dụng khác nhau như: Quỹ đầu tư phát triển; quỹ chi trả các chế độ BHXH.
Sử dụng quy BHXH là quá trình chỉ tiền của quỹ BHXH đến tay đối tuợng được thụ huởng hoặc cho từng mục đích sử dụng cụ thể. 12 Quá trình chỉ BHXH phải đảm bảo đúng nguyên tắc chỉ đúng, chỉ đủ, chỉ kịp thời theo đúng quy định mà các văn bản hướng dẫn chỉ các chế độ BHXH do BHXH Việt Nam quy định trong điều lệ và luật mà quốc hội ban hành. e Quản lý chỉ bảo hiểm xã hội Có nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý nhưng cách hiểu chung nhất là: "Quản lý là sự tác động có tổ chức có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra" [21, tr. Quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có xác định mục tiêu, thể hiện mối quan hệ giữa chủ thể quản lý (quản lý, điều khiển) và đối tượng quản lý (chịu sự quản 1ý), đây là quan hệ giữa lãnh đạo và bị lãnh đạo, không đồng cấp và có tính bắt buộc.
Nó diễn ra trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người với nhiều cấp độ, nhiều mối quan hệ với nhau. Đối với hoạt động BHXH thì quản lý được bao gồm cả quản lý đối tượng tham gia và thụ hưởng, quản lý thu, quản lý chỉ trả và quản lý nguồn quỹ từ đầu tư tăng trưởng. Theo quyết định 828/QĐ-BHXH,_ Quản lý chỉ trả BHXH là các hoạt động có tổ chức, theo quy định của pháp luật để thực hiện công tác chỉ trả các. Các hoạt động đó được thực hiện bằng hệ thống pháp luật của nhà nước và bằng các biện pháp hành chính, tổ chức, kinh tế của các cơ quan chức năng nhằm đạt được mục tiêu chỉ đúng đối tượng, chỉ đủ số lượng và đám bảo đến tận tay đối tượng thụ hưởng đúng thời gian quy định.
Quản lý chi BHXH được hiểu là sự tác động của các chủ thể quản lý vào đối tượng quản lý trong các hoạt động lập, xét duyệt dự toán, tổ chức thực hiện, điều hành và kiểm tra, giám sát hoạt động chỉ trả các chế độ BHXH nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra theo những nguyên tắc và phương pháp quản lý nhất định [22]. 13 Khi nói tới chỉ BHXH là nói đến một loạt các mối quan hệ, bao gồm quan hệ giữa Nhà nước, cơ quan BHXH, người lao động và người sử dụng lao động. Trong các mối quan hệ trên thì người lao động và chủ sử dụng lao động tượng quản lý. Chủ thể quản lý chính là Nhà nước và cơ quan BHXH từ Trung ương tới địa phương.
Cơ quan quản lý ở trung ương là BHXH Việt Nam; ở địa phương có BHXH các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; BHXH huyện, quận, thành phố trực thuộc tỉnh. Mục tiêu của quản lý chỉ BHXH là làm cho quá trình tổ chức chỉ trả chế độ thông suốt, chỉ trả đúng, đủ, kịp thời, phục vụ cho người tham gia và hưởng các chế độ ngày càng tốt hơn, góp phần ôn định, bảo đảm an toàn xã hội và thúc đây sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Vai trò của quản lý chỉ BHXH bắt buộc Hầu hết các nước trên thế giới đều thiết kế mô hình tạo lập và sử dụng quy BHXH theo nguyên tắc dồn tích và có tính chuyển dich thu nhập giữa mọi người tham gia BHXH và qua các thế hệ. Nguồn vốn này được hình thành từ sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động, là sự tiết kiệm tạm thời trong chỉ tiêu tạo ra được một phần vốn đẻ đầu tư phát triển kinh tế của đất nước.
Điều quan trọng của người lao động là được hưởng đầy đủ mọi quyền lợi về BHXH, tham gia BHXH đầy đủ của người lao động và người sử dụng lao động tạo nên sự gắn bó trong quá trình sản xuất - kinh doanh được ồn định, bền vững, năng suất cao hơn, tạo ra một thị trường lao động năng động. Người lao động và người sử dụng lao động được tự do thỏa thuận về điều kiện làm việc phù hợp với nhu câu trình độ, nghề nghiệp, thu nhập. Chỉ BHXH là công tác trọng tâm, đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc thực hiện và đảm bảo tốt chính sách an sinh xã hội của quốc gia nói chung và chính sách BHXH nói riêng, góp phần quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của dat nước. Chỉ BHXH có các vai trò sau: 14 ~ Đối với người thụ hưởng.
Thực hiện tốt công tác quản lý chỉ là trực tiếp đảm bảo quyền lợi của. người thụ hưởng các chế độ. NLĐ khi được chỉ trả đảm bảo sẽ ý thức được.