Luận văn thạc sĩ: Quản lý BHXH cho người lao động tại huyện Đăk Glei, Kon Tum

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu quản lý kinh tế quản lý bảo hiểm xã hội đối với người lao động tại bảo hiểm xã hội huyện đăk glei, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Chuyên ngành

Quản Lý Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

141
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan luận văn quản lý BHXH tại huyện Đăk Glei Kon Tum

Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền cung cấp một cái nhìn toàn diện về công tác quản lý bảo hiểm xã hội (BHXH) đối với người lao động tại huyện Đăk Glei, một huyện miền núi thuộc tỉnh Kon Tum. Đây là một công trình nghiên cứu chuyên sâu, có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh chính sách an sinh xã hội đang ngày càng được chú trọng. Bảo hiểm xã hội được xác định là một trụ cột chính, một công cụ hiệu quả của nhà nước để điều tiết xã hội, gắn kết phát triển kinh tế với công bằng xã hội. Nghiên cứu tập trung vào giai đoạn 2014-2018, một giai đoạn có nhiều biến động về chính sách và tình hình kinh tế - xã hội huyện Đăk Glei. Mục tiêu chính của luận văn là đánh giá đúng thực trạng, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân trong công tác quản lý BHXH. Từ đó, đề tài đề xuất các giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện hệ thống quản lý, đảm bảo quyền lợi cho người lao động, ngăn chặn tình trạng lạm dụng, trục lợi quỹ BHXH và góp phần bảo toàn, phát triển quản lý quỹ bảo hiểm xã hội một cách bền vững. Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu đa dạng, kết hợp giữa phân tích dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo của BHXH huyện Đăk Glei và thu thập dữ liệu sơ cấp thông qua khảo sát 100% cán bộ BHXH, cán bộ bưu điện và người lao động trên địa bàn. Điều này cho thấy tính thực tiễn và độ tin cậy cao của các kết quả nghiên cứu. Công trình này không chỉ là tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách tại Kon Tum mà còn là một minh chứng khoa học về tầm quan trọng của việc đánh giá hiệu quả quản lý BHXH ở cấp địa phương.

1.1. Tầm quan trọng của chính sách an sinh xã hội tại địa phương

BHXH là một phần không thể thiếu của hệ thống chính sách an sinh xã hội, đặc biệt tại các địa bàn khó khăn như Đăk Glei. Nó không chỉ là sự đảm bảo thay thế một phần thu nhập khi người lao động gặp rủi ro như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, mà còn là nền tảng cho sự ổn định xã hội. Việc thực thi tốt chính sách này giúp người lao động yên tâm công tác, cống hiến, từ đó thúc đẩy kinh tế lao động và phát triển bền vững. Đối với doanh nghiệp, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ BHXH giúp xây dựng môi trường lao động hài hòa, giữ chân nguồn nhân lực tại Kon Tum và nâng cao uy tín. Do đó, việc nghiên cứu và hoàn thiện công tác quản lý BHXH tại cấp huyện có ý nghĩa chiến lược, trực tiếp cải thiện đời sống người dân và thực hiện mục tiêu công bằng xã hội.

1.2. Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về kinh tế và BHXH

Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về kinh tế áp dụng vào lĩnh vực BHXH. Quản lý nhà nước về BHXH được định nghĩa là quá trình nhà nước sử dụng quyền lực để tác động, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động BHXH. Các nội dung quản lý chính bao gồm: xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách pháp luật về bảo hiểm xã hội; tổ chức bộ máy và đào tạo nhân lực; tuyên truyền chính sách; quản lý thu-chi và bảo toàn quỹ; và công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm. Nghiên cứu cũng chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý như hệ thống pháp luật, nhận thức của người lao động và người sử dụng lao động, năng lực của cán bộ và sự phối hợp giữa các ban ngành. Đây là nền tảng lý thuyết vững chắc để phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp tại BHXH huyện Đăk Glei.

II. Phân tích thực trạng quản lý BHXH cho người lao động ở Đăk Glei

Chương 2 của luận văn đi sâu vào phân tích thực trạng quản lý bảo hiểm xã hội đối với người lao động tại BHXH huyện Đăk Glei trong giai đoạn 2014-2018. Kết quả nghiên cứu đã vẽ nên một bức tranh đa chiều với cả những điểm sáng và nhiều tồn tại, thách thức. Về mặt tích cực, BHXH huyện đã có nhiều nỗ lực trong việc triển khai các văn bản pháp luật, từng bước mở rộng đối tượng tham gia. Công tác tuyên truyền được thực hiện dưới nhiều hình thức, góp phần nâng cao nhận thức của một bộ phận người dân và doanh nghiệp về vai trò của BHXH đối với người lao động. Tuy nhiên, những hạn chế còn tồn tại là rất lớn và cần được khắc phục. Nổi cộm nhất là vấn đề nợ đọng bảo hiểm xã hội. Bảng 2.12 trong luận văn cho thấy tình trạng nợ đọng vẫn diễn ra phức tạp, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của hàng trăm người lao động. Thực trạng thu BHXH chưa đạt hiệu quả như kỳ vọng, tỷ lệ bao phủ còn thấp so với tiềm năng lực lượng lao động trên địa bàn. Nguyên nhân được xác định do ý thức chấp hành của một số doanh nghiệp chưa cao, tình hình sản xuất kinh doanh khó khăn và công tác thanh tra, kiểm tra chưa đủ sức răn đe. Bên cạnh đó, việc giải quyết chế độ BHXH đôi khi còn chậm trễ, thủ tục hành chính dù đã cải cách nhưng vẫn còn một số điểm gây phiền hà. Những phân tích này được minh chứng bằng các số liệu cụ thể từ Bảng 2.8 đến Bảng 2.17, cho thấy sự nghiêm túc và khoa học trong quá trình nghiên cứu của tác giả.

2.1. Thách thức trong công tác thu và tình trạng nợ đọng BHXH

Công tác thu và quản lý nợ là điểm yếu lớn nhất trong công tác quản lý BHXH tại Đăk Glei. Dữ liệu giai đoạn 2014-2018 chỉ ra rằng, mặc dù số đơn vị tham gia BHXH có tăng (Bảng 2.8), nhưng số tiền nợ đọng bảo hiểm xã hội vẫn ở mức cao. Nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, cố tình trốn đóng, chậm đóng, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc cân đối quản lý quỹ bảo hiểm xã hội. Các biện pháp đôn đốc, khởi kiện ra tòa (Bảng 2.17) đã được áp dụng nhưng hiệu quả chưa cao. Thực trạng này đòi hỏi phải có những giải pháp mạnh mẽ và đồng bộ hơn từ các cơ quan quản lý nhà nước.

2.2. Hạn chế trong việc phát triển đối tượng tham gia BHXH

Việc phát triển đối tượng tham gia BHXH là một nhiệm vụ chiến lược nhưng gặp nhiều khó khăn tại Đăk Glei. Huyện có đặc thù kinh tế chủ yếu là nông-lâm nghiệp, lao động phi chính thức chiếm tỷ lệ lớn. Công tác tuyên truyền, vận động người dân tham gia BHXH tự nguyện chưa thực sự đi vào chiều sâu. Nhận thức của người lao động và người sử dụng lao động về quyền lợi và nghĩa vụ tham gia BHXH còn hạn chế, nhiều người vẫn xem đây là một khoản chi phí thay vì một hình thức đầu tư cho tương lai. Số lao động tham gia BHXH bắt buộc (Bảng 2.9) tăng chậm và chưa tương xứng với tốc độ tăng trưởng lực lượng lao động của huyện.

2.3. Bất cập trong giải quyết chế độ và cải cách hành chính

Mặc dù đã có nỗ lực cải cách hành chính trong lĩnh vực BHXH, quá trình giải quyết chế độ BHXH cho người lao động vẫn còn một số bất cập. Khảo sát cho thấy người lao động đôi khi vẫn gặp khó khăn trong việc hoàn thiện hồ sơ, thời gian chờ đợi giải quyết còn kéo dài. Việc áp dụng công nghệ thông tin đã được triển khai nhưng chưa đồng bộ, hiệu quả chưa cao. Sự phối hợp giữa BHXH huyện với các đơn vị sử dụng lao động và các cơ quan liên quan khác như Liên đoàn Lao động, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội đôi lúc chưa nhịp nhàng, ảnh hưởng đến tiến độ xử lý công việc và đảm bảo phúc lợi xã hội cho người lao động.

III. 5 giải pháp cấp bách hoàn thiện công tác quản lý BHXH tại Đăk Glei

Từ những phân tích sâu sắc về thực trạng, luận văn đã đề xuất một hệ thống các giải pháp đồng bộ và khả thi nhằm hoàn thiện công tác quản lý BHXH tại huyện Đăk Glei. Các giải pháp này không chỉ mang tính lý thuyết mà còn bám sát vào điều kiện thực tế của địa phương, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững hệ thống an sinh xã hội. Trọng tâm của các giải pháp là tăng cường vai trò quản lý nhà nước về kinh tế trong lĩnh vực BHXH. Cần có sự chỉ đạo quyết liệt hơn từ UBND huyện và sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban ngành. Một trong những giải pháp ưu tiên hàng đầu là hoàn thiện cơ chế tổ chức thực hiện chính sách pháp luật về bảo hiểm xã hội. Điều này bao gồm việc cụ thể hóa các văn bản hướng dẫn của cấp trên cho phù hợp với đặc thù của huyện, đồng thời tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật để nâng cao ý thức tuân thủ của cả doanh nghiệp và người lao động. Bên cạnh đó, giải pháp về tối ưu hóa quy trình quản lý thu và xử lý nợ đọng được nhấn mạnh. Cần phải áp dụng các biện pháp mạnh tay hơn đối với các đơn vị chây ì, trốn đóng, công khai danh tính trên các phương tiện thông tin đại chúng và phối hợp với cơ quan thuế, công an để xử lý. Việc quản lý quỹ bảo hiểm xã hội cũng cần được thực hiện minh bạch, hiệu quả, đảm bảo an toàn và tăng trưởng.

3.1. Hoàn thiện việc tổ chức thực hiện chính sách pháp luật BHXH

Để nâng cao hiệu quả, BHXH huyện Đăk Glei cần chủ động tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương ban hành các văn bản chỉ đạo, kế hoạch chuyên đề về việc thực hiện chính sách pháp luật về bảo hiểm xã hội. Tăng cường sự phối hợp liên ngành trong việc thanh tra, kiểm tra định kỳ và đột xuất. Nội dung tuyên truyền cần được đổi mới, dễ hiểu, tập trung vào quyền lợi thiết thực khi tham gia BHXH, đặc biệt là đối với nhóm lao động tự do và nông dân để khuyến khích họ tham gia BHXH tự nguyện, góp phần mở rộng độ bao phủ của chính sách an sinh xã hội.

3.2. Tối ưu hóa quy trình quản lý thu và quản lý quỹ bảo hiểm xã hội

Giải pháp này yêu cầu BHXH huyện phải xây dựng kế hoạch thu chi tiết cho từng tháng, quý, năm. Phân loại các doanh nghiệp theo mức độ rủi ro nợ đọng để có biện pháp đôn đốc phù hợp. Tăng cường ứng dụng phần mềm quản lý để theo dõi chặt chẽ quá trình thu nộp và cảnh báo sớm các dấu hiệu nợ mới phát sinh. Công tác quản lý quỹ bảo hiểm xã hội phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định tài chính, đảm bảo chi trả đúng người, đúng chế độ, kịp thời và minh bạch. Việc đầu tư tăng trưởng quỹ cần được thực hiện thận trọng, đúng quy định để bảo toàn và phát triển nguồn quỹ.

IV. Nâng cao hiệu quả quản lý BHXH Từ nhân lực đến công nghệ

Bên cạnh các giải pháp về chính sách và quy trình, luận văn đặc biệt nhấn mạnh đến yếu tố con người và công nghệ như hai đòn bẩy quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý bảo hiểm xã hội tại Đăk Glei. Chất lượng nguồn nhân lực tại Kon Tum nói chung và tại BHXH huyện Đăk Glei nói riêng là yếu tố then chốt quyết định sự thành công. Đội ngũ cán bộ cần được đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên về chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng giao tiếp và đạo đức công vụ. Một cán bộ giỏi nghiệp vụ, tận tâm với công việc sẽ giải quyết các chế độ chính xác, nhanh chóng, tạo được niềm tin cho người lao động và doanh nghiệp. Song song đó, việc đẩy mạnh cải cách hành chính trong lĩnh vực BHXH và ứng dụng công nghệ thông tin là xu thế tất yếu. Việc chuyển đổi số giúp đơn giản hóa thủ tục, giảm thời gian giao dịch, tăng cường tính minh bạch và hiệu quả quản lý. Xây dựng cơ sở dữ liệu điện tử đồng bộ về người tham gia và thụ hưởng sẽ giúp quản lý đối tượng tốt hơn, hạn chế sai sót và ngăn chặn các hành vi trục lợi quỹ. Sự kết hợp hài hòa giữa con người chuyên nghiệp và công nghệ hiện đại sẽ tạo ra một bước đột phá trong công tác quản lý BHXH tại địa phương, hướng tới một nền an sinh xã hội hiện đại và hiệu quả.

4.1. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm công tác BHXH

Cần xây dựng kế hoạch đào tạo lại và bồi dưỡng nghiệp vụ hàng năm cho đội ngũ cán bộ. Nội dung đào tạo không chỉ về các quy định pháp luật mới mà còn về kỹ năng mềm như tư vấn, giải quyết khiếu nại, và ứng dụng công nghệ. Có chính sách khen thưởng, động viên kịp thời những cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc, đồng thời xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, gây phiền hà cho người dân. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại Kon Tum trong ngành BHXH là một khoản đầu tư chiến lược và lâu dài.

4.2. Đẩy mạnh cải cách hành chính và ứng dụng công nghệ thông tin

Cần tiếp tục rà soát, cắt giảm các thủ tục hành chính không cần thiết. Triển khai mạnh mẽ hơn nữa giao dịch điện tử trong việc kê khai, nộp BHXH và đăng ký giải quyết chế độ. Tăng cường đầu tư trang thiết bị, nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin. Việc này không chỉ giúp nâng cao hiệu suất làm việc của cán bộ mà còn tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho người lao động và doanh nghiệp, là một phần quan trọng của việc đánh giá hiệu quả quản lý BHXH trong thời kỳ mới.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế quản lý bảo hiểm xã hội đối với người lao động tại bảo hiểm xã hội huyện đăk glei tỉnh kon tum

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý BHXH đối với người lao động Chương 2: Thực trạng quản lý bảo hiểm xã hội đối với người lao động tại tại Bảo hiểm xã hội huyện Đăk Glei, Tỉnh Kon Tum Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện quản lý bảo hiểm xã hội lối với người lao động tại tại Bảo hiểm xã hội huyện Đăk Glei, Tỉnh Kon Tum. 12 CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ BẢO HIẾM XA HOI DOI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. KHÁI QUÁT VE QUAN LY BAO HIEM XA HOI DOI VOI NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. Một số khái niệm a.

Bảo hiễm xã hội và trợ cấp báo hiểm xã hội BHXH ra đời vào những năm giữa thế kỷ 19, khi nền công nghiệp và kinh tế hàng hóa đã bắt đầu phát triển mạnh mẽ ở các nước Châu Âu. Có thể nói, BHXH là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời khá sớm và đến nay đã được thực hiện ở tất cả các nứơc trên thế giới. Với bản chất là bảo hiểm cho thu nhập của những người tham gia BHXH phòng ngừa và vượt qua những khó khăn, rủi ro trong cuộc sống hàng ngày như: ốm đau, tật bệnh, tai nạn lao động.tạo cho người lao động niềm tin và đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Từ sự cần thiết về BHXH người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về BHXH với bản chất là bảo hiểm cho thu nhập của những người tham gia BHXH. Theo Tổ chức lao động thế giới ILO “8HXH là sự bảo vệ của cong đồng xã hội đối với các thành viên của mình thông qua sự huy động các nguôn đóng góp vào quỹ BHXH đề trợ cấp trong các trường hợp 6m dau, tai nạn, thương tật, già yếu, thất nghiệp đồng thời chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con dé ồn định đời sống của các thành viên và đảm bảo an toàn xã hội" [28] Theo luật BHXH của Việt Nam (năm 2014): “Báo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phân thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mắt thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghẻ 13 nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quy bảo hiểm xã hội.

"[1S] Tuy vậy về cơ bản, khái niệm BHXH được hiểu: BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động (NLĐ) khi thu nhập của họ bị giảm hoặc mắt việc làm, do những rủi ro xã hội thông qua việc hình thành, sử dụng một quỳ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH và các nguồn thu nhập hợp pháp khác, nhằm góp phần đảm bảo an toàn đời sống của người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo. an toàn xã hội. Bảo hiểm xã hội đã lấy số đông bù số ít và thực hiện chức năng phân phối lại thu nhập theo cả chiều dọc và chiều ngang giữa những người lao động có thu nhập thấp hơn, giữa những người khoẻ mạnh đang làm việc với những người ốm yếu phải nghỉ việc. Nói cách khác, BHXH góp phần đảm bảo sự "thăng bằng” về thu nhập cho người lao động và gia đình họ.

Điều này đã góp một phần vào việc thực hiện công bằng xã hội. Như vậy, xuất phát từ nhu cầu của người lao động, BHXH đã trở thành chính sách xã hội quan trọng của nước ta và hầu hết các nước trên thế giới. * Tro cdp BHXH Trợ cấp BHXH là khoản tiền từ quỹ BHXH được bên BHXH (cơ quan BHXH) chỉ trả cho mọi người được BHXH khi họ bị giảm hoặc mắt thu nhập bị giảm, mất khả năng lao động hoặc mắt việc làm và có đủ các điều kiện quy định. ©_ Mối quan hệ giữa các bên tham gia Trong BHXH bao giờ cũng có mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ về trách nhiệm phải BHXH và quyền lợi được hưởng các trợ cáp BHXH của người lao.

Đó là mối quan hệ diễn ra xuyên suốt trong hoạt động BHXH, mối liên hệ gắn liền với: nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của ba bên: bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên được BHXH. Hình thức tham gia là hàng tháng 14 đóng góp một khoản tiền, còn gọi là đóng phí BHXH cho bên BHXH theo quy định. Bên tham gia BHXH là bên có trách nhiệm đóng góp BHXH theo quy định của pháp luật BHXH. Bên tham gia BHXH gồm có: cơ quan BHXH, người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước.

Trong đó, người sử dụng lao động có trách nhiệm phải tham gia để BHXH đối với người lao động. mà chính mình sử dụng, người lao động phải tham gia một phần để bảo hiểm cho chính mình. Bên BHXH là tổ chức BHXH chuyên trách do Nhà nước lập ra hoặc tùy kiện kinh tế, chính trị, xã hội, có thể do các tổ chức KT-XH và tư nhân lập ra theo quy định của pháp luật và được Nhà nước bảo trợ. Tổ chức BHXH chuyên trách có nhiệm vụ thu phí BHXH các bên tham gia, tồn tích dần thành quỹ tiền tệ tập trung và có thể sử dụng phần nhàn rỗi tương đối để hoạt động làm cho quỹ tăng trưởng.

Khi người lao động rơi vào các trường hợp phải BHXH với đủ điều kiện quy định thì sẽ chỉ trả trợ cấp cho họ. Bên được BHXH là những người lao động và gia đình họ có đủ những điều kiện ràng buộc cần thiết. Chính sách về BHXH * Khái niệm Chính sách BHXH là một trong những chính sách xã hội quan trọng, là trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ôn định xã hội, góp phần phát triển bền vững đất nước. Chính sách BHXH chính là các quy định về việc thực hiện các chế độ BHXH, là hệ thống các quy định về mức hưởng của từng trường hợp, điều kiện hưởng, mức hưởng và thời hạn hưởng cho người lao động khi họ gặp phải những rủi ro thuộc từng phạm vi bảo hiểm Xu hướng chung của thế giới tiếp cận chính sách BHXH trên cơ sở thực hiện và bảo đảm quyền con người, theo hướng phổ quát (BHXH toàn dân).

Từ đó, thiết kế chính sách BHXH đa tầng, theo nguyên tắc đóng - 15 hưởng, có sự chia sẻ, trên cơ sở hình thành và sử dụng quỳ tiền tệ tập trung, được nhà nước bảo hộ và tham gia đầu tư phát triển bền vững quỹ. Mỗi quốc gia có thể lựa chọn mô hình BHXH đa tầng với những chính sách BHXH cụ thê, phù hợp với điều kiện, trình độ phát triển kinh tế - xã hội đất nước, từng bước tiếp cận chuẩn mực quốc tế trong quá trình hội nhập. Nhưng xu hướng chung là hình thành một hệ thống tích hợp BHXH đa tầng đề hỗ trợ và bỗ sung cho nhau nhằm bảo đảm an sinh xã hội (ASXH) cho. mọi người dân, bao gồm: I- Bảo hiểm hưu trí cơ bản hay hưu trí quốc gia (tầng thấp nhất) theo hướng phổ quát, còn gọi là hưu trí xã hội; 2- BHXH của người lao động theo quan hệ đóng - hưởng, có sự chia sẻ; 3- BHXH bồ sung tự nguyện trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên, hoặc hình thức tiết kiệm cho.

mục đích hưu trí. * Nội dung chính sách “Trong suốt thời kỳ thực hiện đôi mới, đặc biệt là giai đoạn từ năm 1995 đến nay, thực hiện các Nghị quyết, Chỉ thị, Kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, chính sách BHXH đã được thể chế hóa theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn về chế độ, chính sách, về cơ chế quản lý, cơ chế tài chính. Cụ thể là: Đã hình thành hệ thống chính sách BHXH khá đồng bộ, bao. quát hầu hết các chế độ BHXH theo thông lệ quố ôm cả loại hình BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện; đối với cả người có quan hệ lao động và người không có quan hệ lao độn; ; cho cả khu vực kinh tế chính thức và phi chính thức.

Hệ thống chính sách BHXH, các quan hệ BHXH được thiết lều chỉnh và vận hành ngày càng phù hợp hơn. ~ Bảo hiểm xã hội bắt buộc Luật BHXH số 58/2014/QH13 quy định các chế độ BHXH bắt buộc hiện hành: *(1) Chế độ ốm đau: Chế độ này có chức năng trả trợ cấp thay lương. 16 trong những ngày người lao động nghỉ ốm hoặc nghỉ chăm sóc con dưới 07 m và mức trợ cấp 75% tiền lương đã gắn với mức đóng góp. (2) Chế độ thai sản, và dưỡng sức phục hồi sức khỏe (gọi chung là các chế độ ngắn hạn): Đây là chế độ áp dụng đối với lao động nữ sinh con lần thứ nhất và lần thứ hai, khi sinh con được hưởng nguyên lương 06 tháng, tùy điều kiện lao động (khi bị xảy thai hoặc sau khi sinh mà con bị chết) người lao động cũng được hưởng trợ cấp.

Mức trợ cấp thai sản bằng 100% tiền lương đóng BHXH, ngoài ra còn được trợ cấp một lần với mức 01 tháng tiền lương. (3) Chế độ TNLĐ - BNN: Luật BHXH quy định rõ trách nhiệm chỉ trả các khoản chỉ phí iền lương. của người lao động từ khi sơ cứu, cấp cứu đến điều trị thương tật ồn định. Ngoài ra, người lao động còn được hưởng, chế độ mắt sức lao động và hưởng các chế độ hưu trí, tử tuất nếu đủ điều kiện.

(4) Chế độ hưu trí (bao gồm cả chế độ BHXH một lần): Luật BHXH quy định điều kiện để hưởng chế độ hưu trí của người lao động là khi đủ 60 tuổi (đối với nam), 55 tuổi (đối với nữ) và có 20 năm đóng bảo hiểm trở lên. Đồng thời, cũng quy định giảm 05 năm tuổi đời để nghỉ hưu đối với lao động làm nghề nặng nhọc, độc hại hoặc nơi có phụ cấp 0,7% trở lên. Mới đây, bộ Luật Lao động số 10/2012/QH13, quy định người lao động có trình độ chuyên môn kỳ thuật cao, người lao động làm công tác quản lý và một số trường hợp đặc biệt khác có thể nghỉ hưu ở tuổi cao hơn nhưng không. Mức lương hưu đối với người có đủ 15 năm đóng BHXH theo quy định và mức lương hưu thấp nhất cũng bằng tiền lương tối thiểu.

Cùng với việc chuyển hệ số quy đổi thời gian công tác kháng chiến sang hưởng chế độ người có công đã tạo ra sự công bằng trong chế độ hưu trí, tránh được giải quyết chế độ trùng lặp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ