mở đầu, kết luận, danh mục các biểu và mục tài liệu tham khảo, đề tài được chia thành 3 chương: Chương l: Cơ sở lý luận QLNN về trật tự xây dựng đô thị. Chương 2: Thực trạng QLNN về trật tự xây dựng đô thị trên địa bàn quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện QLNN vẻ trật tự xây dựng đô thị trên đại bàn quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. 13 CHUONG 1 CO SO LY LUAN QLNN VE TRAT TU’ XÂY DỰNG ĐÔ THỊ 1.
KHÁI QUÁT QLNN VỀ TRẬT TỰ XÂY DỰNG ĐÔ THỊ 1. Khái niệm QLNN về trật tự xây dựng đô thị a. Khai niệm QLNN. Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học trong đó cả khoa học tự nhiên lẫn khoa học xã hội.
Mỗi ngành khoa học đều đưa ra góc nhìn riêng của mình về khái niệm quản lý và QLNN. Nói tới thuật ngữ quản lý, C.Ăng-Ghen cho rằng “Quán [ý là sự tác động chỉ huy, điều khiển khác quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người đề chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã dé ra và đúng với ý trí của người quản lý".|3] Theo quan điểm của G.Atamantrruc (2004), “QLNN ià sự tác động thực tế mang tính tổ chức và điều chỉnh của Nhà nước lên sinh hoạt xã hội, cá nhân, tổ chức của con người nhằm mục đích chắn chỉnh trật tự, duy trì hoặc cải tạo nó dựa trên cơ sở quyển lực của Nhà nước”.[20] Giáo trình Một số vấn đề về quản lý nhà nước của Trường cán bộ Thanh tra (2009) đưa ra khái niệm “QUN mang tính quyền lực Nhà nước, pháp luật là phương tiện, công cụ chủ yếu để QLNN nhằm duy trì sự ồn định và phát triển của xã hội. LT] QLNN “xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nước. QLNN thay đổi phụ thuộc vào chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia qua các giai đoạn lịch sử.
Ngày nay QLNN bao gồm: Hoạt động lập pháp của cơ quan lập pháp; Hoạt động hành pháp của Chính phủ; và Hoạt đông tư pháp của cơ quan tư pháp.” Có thể hiểu QLNN là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền 14 lực Nhà nước và sử dụng pháp luật Nhà nước để điều chỉnh các hành vi của con người trên tắt cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy Nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ôn định và phát triển của xã hội. Nhu vay quản lý là công việc chỉ đạo, sắp xếp các hoạt động của xã hội nhằm đạt được một mục đích đề ra của người quản lý. Theo cách tiếp cận này, quản lý đã nói rõ lên cách thức quản lý và mục đích quản lý. Một cách hiểu khác cho rằng quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý.
Việc tác động theo. cách nào còn tùy thuộc vào các góc độ khoa học khác nhau, các lĩnh vực khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu. 'Từ việc nghiên cứu bản chất của quản lý ta c6 thé khai quat “OLNN là sự. tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyên lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mới quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ”.[19] QUNN là một hoạt động mang tính chất quyền lực Nhà nước, được sự dụng quyền lực Nhà nước để điều chinh các quan hệ xã hội.
QLNN được xem là một hoạt động chức năng của Nhà nước trong quản lý xã hội và có thê xem là hoạt động chức năng đặc biệt, QLNN được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, là toàn bộ hoạt động của bộ máy Nhà nước, từ hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp; Theo nghĩa hẹp, chỉ bao gồm hoạt động hành pháp. QLNN được đề cập trong đề tài này là khái niệm QLNN theo nghĩa rộng; QLNN bao gồm toàn bộ các hoạt động từ ban hành các văn bản luật, các văn bản mang tính luật đến việc chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng bị quản lý và vấn đề tư pháp đối với đối tượng quản lý cần thiết của Nhà 15 nước. Hoạt động QLNN chủ yếu và trước hết được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân tham gia quản lý theo quy định của pháp luật. Có thể nói QLNN là sự tác động bằng pháp luật của các chủ thể quản lý mang quyền hạn Nhà nước đến các đối tượng quản lý nhằm thực hiện chức năng đối ngoại, đối nội của Nhà nước.
Tất cả các cơ quan nhà nước đều thực hiện chức năng QLNN. QLNN đo bộ máy hành chính nhà nước thực hiện nhiều lĩnh vực: nông nghiệp và phát triển nông thôn, giao thông vận tải, y tế, giáo dục, xây dựng, an ninh quốc phòng. Như vậy, QLNN là hoạt động thực thi quyền hành pháp nhằm tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi của công dân do các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương thực hiện đề thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội, duy trì trật tự an ninh, thỏa mãn nhu cầu hàng ngày của nhân dân. b, Khái niệm trật tự xây dựng đô thị Theo từ điển Từ và Ngữ Việt Nam của tác giả Nguyễn Lân thì trật tự được hiểu là: “Tình trạng ổn định, có thứ bậc trên dưới, trước sau".
Trật tự là trạng thái phát triển có sự sắp xếp theo một thứ tự nhất định của các bộ phận để cấu thành chỉnh thể, trong đó các bộ phận đều vận động theo những nguyên tắc, các quy định mà nó cần phải tuân thủ. Trạng thái xây dựng có trật tự được hình thành và điều chỉnh bởi các quy tắc, quy phạm nhất định mà mọi người phải tuân theo.[8] Theo Khoản 1, Điều 2, Luật Quy hoạch đô thị năm 2009, “đô thị được hiểu là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đầy sự phát triển 16 kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị tran.” [11] Đô thị hóa là quá trình tăng tỉ lệ dân thành thị so với tổng số dân, mở rộng quy mô các thành phố và sự lan tỏa lối sống thành thị về nông thôn. Đô thị hóa là một xu hướng tắt yếu của toàn cầu. Quá trình đô thị hóa, gắn liền với sự phát triển của các lực lượng sản xuất, quan hệ xã hội và được cách mạng khoa học kỹ thuật thúc đẩy.
Đô thị hóa không chỉ là sự phát triển riêng của một đô thị về quy mô và số lượng dân số, mà còn gắn liền với những biến đổi kinh tế - xã hội và môi trường thiên nhiên của một hệ thống đô thị. Từ đó có thê hiểu trật tự xây dựng đô thị là trạng thái được hình thành dựa trên sự thực thi pháp luật về xây dựng trong thực tiễn của chủ thể nhằm duy trì sự ôn định về trật tự xây dựng đô thị. Khái niệm QLNN về trật tự xây dựng đô thị QLNN về trật tự xây dựng là sự tác động mang tính đồng bộ, có chủ đích của các cơ quan QLNN có thâm quyền đến các chủ thẻ tham gia vào các hoạt đông xây dựng, nhằm đảm bảo cho các hoạt động xây dựng tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật. Đó là bao gồm các hoạt động thanh tra, kiểm tra, đề xuất kiến nghị và xử lý vi phạm theo thẩm quyền và trình tự luật định về các vất liên quan đến trật tự xây dựng nhằm đảm bảo xây dựng, quản lý đô thị phù hợp với quy hoạch tổng thẻ và phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng, giữ gìn và phát trié bộ mặt đô thị theo đúng quy hoạch được phê duyệt tạo điều kiện cho nhân dân xây dựng, bảo vệ quyền lợi chính đáng hợp pháp của nhân dân, ngăn chặn và tiến tới chấm ditt tinh trang lin chiếm đất công, sử dụng đất sai mục đích, xây dựng không phép, sai phép giữ gìn kỷ cương pháp luật của Nhà nước.
Bằng những quy định, quy chuẩn, tiêu chuẩn cụ thể của đô thị nói riêng 17 và của Nhà nước nói chung, mọi hoạt động xây dựng trong đô thị phải thực hiện đúng trật tự, đúng quy định quy chuẩn cụ thể mà cơ quản QLNN đề ra. Hay nói các khác, quản lý trật tự xây dựng đô thị cũng là việc đi kiểm tra. Những công trình xây dựng trên địa bàn không đúng nội dung giấy phép xây dựng (GPXD), quy hoạch kiến trúc đã phê duyệt, không có GPXD và các. biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật.
QLNN về trật tự xây dựng đô thị là hoạt động quy hoạch, cấp phép, kiểm tra, thanh tra, đề xuất, kiến nghị và xử lý vi phạm theo đúng thấm quyền và đúng quy định của pháp luật về các vấn đề liên quan đến trật tự xây xựng nhằm đảm bảo tắt cả tổ chức cá nhân đều xây dựng công trình đô thị phù hợp với quy hoạch tổng thẻ và phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng. Giữ gìn và phát triển mỹ quan đô thị theo đúng quy hoạch đã được phê duyệt. Bảo vệ quyền lợi chính đáng hợp pháp của nhân dân, chấm dứt lấn chiếm đất công, sử dụng đất không đúng mục đích. QUNN về trật tự đô thị là hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước can thiệp vào hoạt động xây dựng trên đô thị, nhằm khai thác tối đa nguồn lực.
đất đai, nước, môi trường tự nhiên nhằm tạo dựng môi trường thuận lợi cho hình thức định cư ở đô thị, trên cơ sở kết hợp hải hòa giữa lợi ích quốc gia và lợi ích đô thị để hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.