phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục biểu đồ, danh mục chữ viết tắt, đề tài được bố cục thành bốn chương, cụ thể: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về kiểm soát chi XDCB của KBNN Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng kiểm soát chi xây dựng cơ bản của Kho bạc Nhà nước quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Chƣơng 4: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện kiểm soát chi xây dựng cơ bản của Kho bạc Nhà nước quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ KIỂM SOÁT CHI XÂY DỰNG CƠ BẢN CỦA KHO BẠC NHÀ NƢỚC 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu. Quản lý chi NSNN hay kiểm soát chi XDCB đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều công trình khoa học, luận văn thạc sĩ, tiến sỹ và đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, ngành, cụ thể là: Luận văn thạc sỹ: “Hoàn thiện công tác kiểm soát chi NSNN qua Kho bạc Nhà nước trong giai đoạn hiện nay”, Bùi Huy Trường, năm 2010. Luận văn tập trung nghiên cứu lý luận chi NSNN và quản lý chi NSNN qua KBNN và hoàn thiện công tác kiểm soát chi NSNN qua KBNN trong giai đoạn hiện nay. Qua đó cũng chỉ ra được một số tồn tại trong chi NSNN qua KBNN trong cơ chế kiểm soát, xét duyệt hồ sơ, yếu kém của cán bộ, và hệ thống thông tin.
Luận văn thạc sĩ: “Hoàn thiện kiểm soát chi đầu tư xây dựng cơ bản tại Kho bạc Nhà nước Hà Nội”, Nguyễn Thị Hiền, năm 2011. Luận văn đã nghiên cứu những lý luận liên quan đến kinh tế đầu tư, kiểm soát chi đầu tư XDCB và cam kết chi đầu tư từ nguồn vốn NSNN. Qua đánh giá thực trạng công tác kiểm soát chi đầu tư về XDCB từ nguồn vốn NSNN tại KBNN Hà Nội, luận văn đã chỉ ra những mặt còn hạn chế, nguyên nhân của những mặt hạn chế để qua đó đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát chi đầu tư XDCB tại KBNN Hà Nội, góp phần hạn chế nợ đọng khối lượn đầu tư XDCB khu vực công do KBNN Hà Nội quản lý. Luận văn thạc sĩ: “Hoàn thiện cơ chế kiểm soát chi đối với các dự án đầu tư từ nguồn vốn trái phiếu chính phủ qua Kho bạc Nhà nước”, Lương Thị Hồng Thúy, năm 2013.
Luận văn đã chỉ rõ được thực trạng về cơ chế, chỉ ra những tồn tại, khó khăn, vướng mắc trong cơ chế kiểm soát chi đối với các dự án đầu tư từ nguồn vốn trái phiếu Chính phủ tại KBNN hiện nay, đồng thời làm rõ được các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc hoàn thiện cơ chế kiểm soát chi đối với các dự án đầu tư từ 4 nguồn vốn trái phiếu Chính phủ. Trên cơ sở đó, luận văn đã đề xuất một số giải pháp chủ yếu và những kiến nghị với các cấp có thẩm quyền, nhằm hoàn thiện cơ chế kiểm soát chi đối với các dự án đầu tư từ nguồn vốn trái phiếu Chính phủ qua hệ thống KBNN. Luận văn thạc sĩ: “Nâng cao vai trò Kho bạc Nhà nước đối với kiểm soát chi các dự án đầu tư xây dựng cơ bản thuộc hệ thống Kho bạc Nhà nước”, Trần Thị Song Mây, năm 2013. Luận văn đã hệ thống hóa được những lý luận cơ bản về kiểm soát chi đầu tư XDCB qua KBNN và kiểm soát chi đầu tư XDCB các dự án thuộc hệ thống KBNN.
Phân tích và làm rõ thực trạng kiểm soát chi đầu tư XDCB qua KBNN thuộc nguồn vốn NSNN nói chung và đầu tư XDCB các dự án thuộc hệ thống KBNN nói riêng. Qua đó đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao vai trò KBNN trong công tác kiểm soát chi đầu tư XDCB các dự án thuộc hệ thống KBNN, góp phần thực hiện mục tiêu Chiến lược phát triển KBNN đến năm 2020 và những năm tiếp theo. Luận văn thạc sĩ: “Hoàn thiện kiểm soát chi NSNN theo mô hình Kho bạc Nhà nước điện tử”, Phạm Quang Huy, năm 2014. Luận văn đã đưa ra các giải pháp xây dựng chương trình kiểm soát chi NSNN theo mô hình KBNN điện tử một cách tốt nhất, vừa phù hợp với cơ sở hạ tầng, trình độ công nghệ thông tin của công chức KBNN, cán bộ đơn vị sử dụng NSNN vừa đáp ứng được định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm cơ sở để triển khai thực hiện kiểm soát chi NSNN theo mô hình KBNN điện tử, một trong các mục tiêu hiện đại hóa hệ thống thông tin trong hệ thống KBNN đến năm 2020. Các luận văn trên đều là những công trình khoa học có giá trị cao trên địa bàn được nghiên cứu. Tuy nhiên chưa có luận văn nào nghiên cứu chuyên sâu về việc “Kiểm soát chi xây dựng cơ bản của Kho bạc Nhà nước quận Cầu Giấy, Hà Nội ”, vì vậy luận văn vẫn có tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn cao để các đơn vị cấp tương đương có thể tham khảo và ứng dụng, đồng thời phù hợp với yêu cầu của công cuộc cải cách hành chính và định hướng phát triển hệ thống KBNN giai đoạn (2010 – 2020) nói chung và KBNN quận Cầu Giấy nói riêng 5 1.2 Cơ sở lý luận về kiểm soát chi xây dựng cơ bản của Kho bạc Nhà nƣớc.1 Một số khái niệm có liên quan. * Ngân sách nhà nƣớc và vai trò của NSNN Ngân sách nhà nước là một bộ phận cấu thành trong hệ thống tài chính.
NSNN là khâu chủ đạo, đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc duy trì sự tồn tại của bộ máy quyền lực Nhà nước. Song quan niệm về NSNN lại chưa thống nhất, người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa về NSNN tùy theo các trường phái và các lĩnh vực nghiên cứu. NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước (Luật NSNN 2015). Do vậy NSNN là công cụ điều hành vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước, Nhà nước chỉ có thể thực hiện điều hành nền kinh tế có hiệu quả khi nền tài chính được đảm bảo.
* Vai trò của ngân sách nhà nước Vai trò của NSNN được thể hiện trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa như sau: Thứ nhất, huy động các nguồn tài chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Thứ hai, NSNN là công cụ điều tiết thị trường, bình ổn giá cả và chống lạm phát Thứ ba, NSNN là công cụ định huớng phát triển sản xuất Thứ tư, NSNN là công cụ điều chỉnh thu nhập giữa các tầng lớp dân cư * Chi NSNN và các khoản chi NSNN qua Kho bạc Nhà nƣớc. Từ khái niệm và vai trò NSNN nêu trên về thấy chi NSNN là một trong hai nội dung chủ yếu của NSNN. Chi NSNN là quá trình phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhằm thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước trong từng thời kỳ. Chi NSNN có quy mô rộng và muức độ rộng lớn, bao trùm nhiều lĩnh vực, nhiều cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước.
Chi NSNN bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh, đảm bảo bộ máy hoạt động của Nhà nước, chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật. 6 Như vậy, chi NSNN là tổng thể các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị phát sinh trong quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp nhằm thực hiện các nhiệm vụ kinh tế xã hội do Nhà nước đảm nhiệm. Chi xây dựng cơ bản từ Ngân sách nhà nước. Chi đầu tư XDCB từ NSNN là các khoản chi của ngân sách để đầu tư xây dựng các công trình thuộc kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội không có khả năng thu hồi vốn, các công trình của doanh nghiệp nhà nước đầu tư theo kế hoạch được duyệt, các dự án quy hoạch vùng và lãnh thổ Thực chất chi đầu tư XDCB từ NSNN là quá trình phân phối và sử dụng một phần vốn tiền tệ của NSNN để đầu tư tái sản xuất tài sản cố định nhằm từng bước tăng cường, hoàn thiện và hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực sản xuất, củng cố xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của nền kinh tế quốc dân, tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.
Đầu tƣ XDCB có những đặc điểm đặc thù cho thấy tính đa dạng và phức tạp của hoạt động đầu tƣ XDCB dẫn đến các đặc điểm của chi đầu tƣ XDCB nhƣ sau: Thứ nhất, chi đầu tƣ XDCB từ nguồn vốn NSNN là khoản chi lớn của NSNN nhƣng không có tính ổn định. Đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN cho phát triển cơ sở hạ tầng là hoạt động mang tính thường xuyên, liên tục, là nền tảng bảo đảm cho sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, là cơ sở tạo ra môi trường đầu tư nhằm thu hút các nguồn vốn trong và ngoài nước đầu tư vào các lĩnh vực theo định hướng của Nhà nước trong từng thời kỳ. Tuy nhiên, hoạt động đầu tư xây dựng các công trình thường diễn ra trong thời gian dài nên đòi hỏi mức vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước rất lớn và công tác bố trí vốn đầu tư xây dựng các công trình trong kế hoạch đầu tư hàng năm của Nhà nước cần xác định phù hợp và đảm bảo nhất. Tuy nhiên khoản chi đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN lại không mang tính ổn định.
Các khoản chi đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN chịu ảnh hưởng của các yếu tố như: 7 + Tình hình thu, chi NSNN hàng năm chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố (kinh tế, chính trị, xã hội) trong nước và quốc tế lại quyết định tới nguồn vốn của NSNN dùng để đầu tư cho các dự án, công trình. + Chủ trương và đường lối phát triển kinh tế xã hội, cơ cấu chi cho XDCB của NSNN trong từng năm hoặc từng giai đoạn hay tỷ trọng ưu tiên cho từng nội dung chi, cho từng lĩnh vực kinh tế-xã hội nhằm đáp ứng yêu cầu của đất nước trong từng thời kỳ được xác định trên cơ sở chủ trương đường lối phát triển KT-XH của Đảng và Nhà nước.