Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học phân hóa cho giáo viên ở các trường trung học cơ sở huyện lâm thao tỉnh phú thọ theo chương trình giáo dục phổ thông 2018

Luận văn ThS: Quản lý bồi dưỡng năng lực dạy học phân hóa cho giáo viên THCS Lâm Thao, Phú Thọ theo chương trình GDPT 2018. Nghiên cứu chuyên sâu về quản lý giáo dục.

Trường đại học

Trường Đại học Giáo dục

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

135
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CÁM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC DẠY HỌC PHÂN HÓA CHO GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.2. Nghiên cứu về dạy học phân hóa trên thế giới

1.3. Một số khái niệm công cụ

1.4. Quản lý nhà trường

1.5. Dạy học và năng lực dạy học phân hóa

1.6. Bồi dưỡng và bồi dưỡng năng lực dạy học phân hóa cho giáo viên

1.7. Quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học phân hóa cho giáo viên

1.8. Những nội dung đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay và yêu cầu đặt ra đối với năng lực dạy học phân hóa của giáo viên THCS

1.9. Hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học phân hóa cho giáo viên các trường THCS theo chương trình giáo dục phổ thông 2018

1.10. Mục tiêu bồi dưỡng năng lực dạy học phân hóa cho giáo viên các trường THCS

1.11. Nội dung bồi dưỡng năng lực dạy học phân hóa cho giáo viên các trường THCS

1.12. Hình thức và phương pháp bồi dưỡng năng lực dạy học phân hóa cho giáo viên các trường THCS

1.13. Kiểm tra, giám sát bồi dưỡng năng lực dạy học phân hóa cho giáo viên các trường THCS

1.14. Quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học phân hóa cho giáo viên các trường THCS theo chương trình giáo dục phổ thông 2018

1.15. Phân tích, đánh giá nhu cầu bồi dưỡng NLDH phân hóa của giáo viên

1.16. Xây dựng mục tiêu bồi dưỡng năng lực dạy học phân hóa cho giáo viên

1.17. Thiết kế nội dung bồi dưỡng năng lực dạy học phân hóa cho GV THCS theo đổi mới chương trình GDPT 2018

1.18. Tổ chức kiểm tra, giám sát bồi dưỡng năng lực dạy học phân hóa cho giáo viên các trường THCS

1.19. Quản lý các điều kiện để thực hiện quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên trong bối cảnh đổi mới giáo dục

1.20. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học phân hóa cho giáo viên theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông

1.21. Điều kiện phát triển kinh tế - xã hội

1.22. Cơ chế quản lý của ngành giáo dục

1.23. Năng lực của đội ngũ giáo viên trước yêu cầu đổi mới

1.24. Năng lực của CBQL

1.25. Những đặc điểm về nhận thức của học sinh THCS

1.26. Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và tài chính của nhà trường

1.27. Những định hướng mới của chương trình giáo dục phổ thông 2018 đối với cấp THCS

1.28. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC DẠY HỌC CHO GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ THEO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018

2.1. Khái quát các yếu tố kinh tế - xã hội có ảnh hướng tới sự phát triển giáo dục THCS ở huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ

2.2. Khái quát về tình hình phát triển kinh tế, xã hội

2.3. Tình hình về giáo dục ở huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ

2.4. Mô tả qua trình khảo sát thực trạng

2.5. Mục tiêu khảo sát

2.6. Nội dung khảo sát

2.7. Phương pháp khảo sát và cách xử lý số liệu

2.8. Đối tượng khảo sát

2.9. Thực trạng hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học phân hóa cho giáo viên tại các trường THCS huyện Lâm Thao theo chương trình giáo dục phổ thông 2018

2.10. Thực trạng về nhận thức của cán bộ, giáo viên các trường THCS huyện Lâm Thao về hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học phân hóa cho giáo viên theo chương trình giáo dục phổ thông 2018

2.11. Thực trạng mục tiêu hoạt động bồi dưỡng năng lực DHPH cho giáo viên theo chương trình giáo dục phổ thông 2018

2.12. Thực trạng nội dung hoạt động bồi dưỡng năng lực DHPH

2.13. Thực trạng hình thức tổ chức và phương pháp bồi dưỡng năng lực DHPH cho GV THCS

2.14. Thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực dạy học phân hóa cho giáo viên tại các trường THCS huyện Lâm Thao theo chương trình giáo dục phổ thông 2018

2.15. Thực trạng việc phân tích, đánh giá nhu cầu bồi dưỡng NLDH phân hóa của giáo viên

2.16. Thực trạng việc xây dựng mục tiêu hoạt động bồi dưỡng năng lực DHPH cho GV THCS huyện Lâm Thao theo đổi mới chương trình giáo dục phổ thông năm 2018

2.17. Thực trạng thiết kế nội dung bồi dưỡng năng lực DHPH cho GV THCS huyện Lâm Thao theo đổi mới chương trình GDPT năm 2018

2.18. Thực trạng kiểm tra, đánh giá, giám sát hoạt động bồi dưỡng năng lực DHPH cho GV THCS

2.19. Thực trạng quản lý cơ sở vật chất và các điều kiện phục vụ hoạt động bồi dưỡng năng lực DHPH cho GV THCS

2.20. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực DHPH cho giáo viên ở các trường THCS huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ theo chương trình giáo dục phổ thông năm 2018

2.21. Đánh giá chung về thực trạng quản lý bồi dưỡng năng lực dạy học phân hóa cho giáo viên tại các trường THCS huyện Lâm Thao theo chương trình giáo dục phổ thông 2018

2.22. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC DẠY HỌC CHO GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ THEO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018

3.1. Nguyên tắc đề xuất các biện pháp

3.2. Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu

3.3. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn

3.4. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi

3.5. Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả

3.6. Các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học phân hóa cho giáo viên tại các trường THCS huyện Lâm Thao theo chương trình giáo dục phổ thông 2018

3.7. Tổ chức tuyên truyền cho CBQL, GV về năng lực DHPH theo yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông 2018

3.8. Tổ chức hoạt động bồi dưỡng năng lực DHPH cho GV THCS theo chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 bám sát nhu cầu, điều kiện của nhà trường và cộng đồng địa phương

3.9. Xây dựng các nội dung bồi dưỡng năng lực DHPH cho GV THCS theo yêu cầu chương trình môn học theo qui định của chương trình giáo dục phổ thông 2018

3.10. Tổ chức giám sát, đánh giá hoạt động bồi dưỡng năng lực DHPH cho GV THCS theo yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông 2018

3.11. Huy động các nguồn lực của địa phương và nhà trường để quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực DHPH cho GV THCS theo chương trình giáo dục phổ thông 2018

3.12. Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp đã đề xuất

3.13. Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp đã đề xuất

3.14. Tiểu kết chương 3

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tầm quan trọng của bồi dưỡng năng lực dạy học phân hóa

Trong bối cảnh đổi mới giáo dục, việc quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học phân hóa cho giáo viên trở thành nhiệm vụ cấp thiết. Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đặt ra yêu cầu cao về việc cá nhân hóa lộ trình học tập, nhằm phát huy tối đa tiềm năng của mỗi học sinh. Điều này đòi hỏi một sự thay đổi căn bản trong tư duy và phương pháp giảng dạy của đội ngũ nhà giáo. Luận văn thạc sĩ của tác giả Ngô Đại Toàn đã đi sâu nghiên cứu vấn đề này tại huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, một địa bàn cụ thể phản ánh những thách thức chung của ngành giáo dục. Trọng tâm của nghiên cứu là tìm ra các biện pháp quản lý bồi dưỡng giáo viên hiệu quả, giúp họ không chỉ nắm vững lý thuyết mà còn có khả năng áp dụng thành thạo phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực. Mục tiêu cuối cùng là nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đáp ứng yêu cầu của xã hội trong giai đoạn mới. Hoạt động bồi dưỡng không chỉ là cung cấp kiến thức, mà còn là một quá trình phát triển chuyên môn giáo viên THCS một cách bền vững, tạo ra một môi trường học tập năng động, nơi mọi học sinh đều có cơ hội phát triển.

1.1. Yêu cầu cấp thiết từ Chương trình giáo dục phổ thông mới

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã xác định dạy học phân hóa (DHPH) là một trong những vấn đề trọng tâm của chương trình phổ thông sau 2018. Quan điểm chỉ đạo của chương trình giáo dục phổ thông mới là “đảm bảo phát triển phẩm chất và năng lực người học” và “phân hoá dần ở các lớp học trên”. Để hiện thực hóa mục tiêu này, việc đào tạo và bồi dưỡng, phát triển năng lực nghề nghiệp giáo viên là yếu tố tiên quyết. Giáo viên không còn là người truyền thụ kiến thức một chiều mà trở thành người tổ chức, hướng dẫn quá trình học tập. Họ cần được trang bị các kỹ năng để nhận diện, đánh giá nhu cầu, năng lực và phong cách học tập của từng học sinh. Từ đó, giáo viên có thể thiết kế nội dung và áp dụng các phương pháp đổi mới phương pháp dạy học phù hợp, tạo điều kiện cho mọi học sinh, dù ở trình độ nào, cũng có thể tiến bộ. Đây là một thách thức lớn, đòi hỏi sự đầu tư nghiêm túc vào công tác bồi dưỡng và tự bồi dưỡng.

1.2. Vai trò của dạy học phân hóa trong phát triển năng lực học sinh

Dạy học phân hóa là con đường tối ưu để đào tạo theo hướng tiếp cận năng lực. Nó cho phép học sinh làm việc với nhịp độ và khả năng phù hợp với bản thân, từ đó phát huy tối đa tiềm năng học tập. Khi áp dụng dạy học cá thể hóa, giáo viên có thể xác định chính xác học sinh đang ở mức độ nào, cần sự trợ giúp ra sao. Điều này không chỉ giúp học sinh yếu kém củng cố kiến thức nền tảng mà còn tạo cơ hội cho học sinh khá giỏi bứt phá, khám phá những tri thức sâu rộng hơn. Quá trình này góp phần hình thành các năng lực chung cốt lõi như năng lực tự chủ, tự học, giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo. Như vậy, việc đầu tư vào nâng cao năng lực dạy học phân hóa cho giáo viên chính là đầu tư trực tiếp vào chất lượng đầu ra của giáo dục, tạo ra một thế hệ học sinh năng động, sáng tạo, sẵn sàng đáp ứng yêu cầu của xã hội hiện đại.

II. Thách thức trong quản lý bồi dưỡng giáo viên tại Lâm Thao

Nghiên cứu tại huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ đã chỉ ra những thách thức không nhỏ trong công tác quản lý nhà trường liên quan đến hoạt động bồi dưỡng. Mặc dù đã có những nỗ lực nhất định, thực trạng quản lý giáo dục tại địa phương cho thấy một bộ phận không nhỏ giáo viên vẫn còn hạn chế về năng lực dạy học phân hóa. Các hoạt động bồi dưỡng đôi khi còn mang tính hình thức, chưa thực sự xuất phát từ nhu cầu thực tế của giáo viên và nhà trường. Việc đánh giá năng lực giáo viên sau bồi dưỡng chưa được thực hiện một cách bài bản và khoa học, dẫn đến khó khăn trong việc đo lường hiệu quả công tác bồi dưỡng chuyên môn. Bên cạnh đó, các yếu tố như cơ sở vật chất, nguồn lực tài chính, và nhận thức của một số cán bộ quản lý cũng là rào cản. Việc xác định rõ những khó khăn này là bước đi quan trọng đầu tiên để đề xuất các giải pháp quản lý khả thi, nhằm tạo ra một hệ thống quản lý hoạt động chuyên môn ở trường THCS đồng bộ và hiệu quả hơn.

2.1. Thực trạng nhận thức và năng lực của đội ngũ giáo viên

Qua khảo sát, một bộ phận giáo viên các trường THCS trên địa bàn huyện Lâm Thao vẫn chưa nhận thức đầy đủ và sâu sắc về vai trò, tầm quan trọng của dạy học phân hóa. Nhiều người vẫn quen với phương pháp giảng dạy đồng loạt, chưa chú trọng đến sự khác biệt của học sinh. Năng lực xây dựng kế hoạch bài dạy, thiết kế học liệu, và tổ chức các hoạt động học tập đa dạng để phù hợp với nhiều nhóm đối tượng còn hạn chế. Theo tác giả Ngô Đại Toàn, “vẫn còn một bộ phận không nhỏ giáo viên có năng lực dạy học nói chung, nhất là dạy học phân hóa nói riêng còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được năng lực dạy học trước yêu cầu đổi mới”. Điều này cho thấy khoảng cách giữa yêu cầu của chương trình mới và năng lực thực tế của giáo viên, đòi hỏi phải có những chương trình bồi dưỡng thiết thực và sát sườn.

2.2. Những bất cập trong công tác quản lý và tổ chức bồi dưỡng

Công tác quản lý giáo dục cấp huyện và tại các nhà trường còn tồn tại một số bất cập. Việc tổ chức hoạt động bồi dưỡng thường xuyên (BDTX) đôi khi chưa bám sát nhu cầu thực tế. Các nội dung bồi dưỡng có thể còn chung chung, mang tính lý thuyết, thiếu tính ứng dụng. Hơn nữa, việc kiểm tra, giám sát và đánh giá sau bồi dưỡng chưa được chú trọng đúng mức. Điều này dẫn đến tình trạng giáo viên tham gia bồi dưỡng nhưng không áp dụng hoặc áp dụng không hiệu quả vào thực tiễn giảng dạy. Luận văn chỉ ra rằng cần phải “tăng cường các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng và tự bồi dưỡng thường xuyên”, trong đó người cán bộ quản lý phải xác định rõ mục tiêu, nội dung, hình thức phù hợp và khả thi cho đơn vị mình. Việc khắc phục những bất cập này là yếu tố then chốt để nâng cao chất lượng đội ngũ.

III. Top biện pháp quản lý bồi dưỡng năng lực dạy học phân hóa

Để giải quyết các thách thức, luận văn đã đề xuất một hệ thống các biện pháp quản lý bồi dưỡng giáo viên mang tính hệ thống và khả thi. Các biện pháp này không chỉ tập trung vào việc nâng cao kiến thức, kỹ năng cho giáo viên mà còn hướng đến việc thay đổi tư duy, nhận thức của cả cán bộ quản lý và giáo viên về tầm quan trọng của dạy học phân hóa. Trọng tâm là xây dựng một kế hoạch bồi dưỡng bài bản, xuất phát từ việc phân tích, đánh giá chính xác nhu cầu của từng giáo viên và điều kiện thực tế của nhà trường. Các biện pháp này nhấn mạnh vai trò chủ động của nhà trường trong việc thiết kế nội dung, lựa chọn hình thức tổ chức linh hoạt và đa dạng. Hơn nữa, việc huy động các nguồn lực từ địa phương và tăng cường cơ chế giám sát, đánh giá được xem là những yếu tố không thể thiếu để đảm bảo quá trình nâng cao năng lực dạy học phân hóa đi vào thực chất và mang lại hiệu quả bền vững, góp phần vào thành công của Chương trình giáo dục phổ thông 2018.

3.1. Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý và giáo viên về DHPH

Biện pháp đầu tiên và nền tảng là tổ chức tuyên truyền sâu rộng để mọi cán bộ quản lý và giáo viên hiểu đúng, hiểu đủ về bản chất và vai trò của dạy học phân hóa. Cần làm rõ đây là yêu cầu tất yếu của chương trình giáo dục phổ thông mới, không phải là một công việc làm thêm. Các hoạt động như hội thảo, sinh hoạt chuyên môn theo chủ đề, chia sẻ kinh nghiệm từ các giáo viên cốt cán có thể giúp thay đổi tư duy từ “dạy học đồng loạt” sang “dạy học đáp ứng sự đa dạng”. Khi nhận thức được nâng cao, giáo viên sẽ có động lực và thái độ tích cực hơn trong việc tham gia các hoạt động bồi dưỡng và tự giác đổi mới phương pháp dạy học của chính mình. Sự đồng thuận về nhận thức trong toàn trường là tiền đề quan trọng cho mọi nỗ lực cải cách sau đó.

3.2. Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng bám sát nhu cầu thực tế

Một kế hoạch bồi dưỡng hiệu quả phải được xây dựng dựa trên kết quả khảo sát, phân tích nhu cầu thực tế của giáo viên. Thay vì áp đặt các nội dung từ trên xuống, nhà trường cần tổ chức hoạt động bồi dưỡng thường xuyên dựa trên những khó khăn, vướng mắc mà giáo viên gặp phải. Nội dung bồi dưỡng cần cụ thể, tập trung vào các kỹ năng cốt lõi như: kỹ năng phân loại học sinh, kỹ năng thiết kế bài dạy phân hóa, kỹ năng xây dựng công cụ kiểm tra đánh giá đa dạng, kỹ năng quản lý lớp học có nhiều trình độ. Kế hoạch cũng cần linh hoạt, phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất và nguồn lực của từng trường. Việc này đảm bảo rằng hoạt động bồi dưỡng thực sự giải quyết được vấn đề của giáo viên, giúp họ tự tin áp dụng kiến thức vào thực tế, từ đó nâng cao hiệu quả công tác bồi dưỡng chuyên môn.

IV. Hướng dẫn tổ chức hoạt động bồi dưỡng giáo viên hiệu quả

Việc tổ chức hoạt động bồi dưỡng thường xuyên không nên chỉ dừng lại ở các lớp học tập trung. Để phát triển chuyên môn giáo viên THCS một cách toàn diện, cần đa dạng hóa các hình thức và phương pháp bồi dưỡng. Các hình thức như sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học, dự giờ thăm lớp, hội thảo chuyên đề, tự học có hướng dẫn, và học tập qua mạng (e-learning) cần được kết hợp hài hòa. Đặc biệt, việc tạo ra một cộng đồng học tập chuyên môn trong nhà trường, nơi giáo viên có thể chia sẻ kinh nghiệm, thảo luận các vấn đề khó, và cùng nhau tìm giải pháp, là một phương pháp cực kỳ hiệu quả. Hoạt động bồi dưỡng cần lấy thực hành làm trọng tâm, khuyến khích giáo viên thiết kế và dạy thử các tiết học phân hóa. Quá trình này phải đi kèm với cơ chế giám sát, góp ý và rút kinh nghiệm một cách xây dựng, giúp giáo viên liên tục hoàn thiện năng lực nghề nghiệp giáo viên.

4.1. Đa dạng hóa hình thức và phương pháp bồi dưỡng chuyên môn

Để tránh sự nhàm chán và tăng tính ứng dụng, cần kết hợp nhiều hình thức bồi dưỡng. Bên cạnh các buổi tập huấn tập trung, cần đẩy mạnh hình thức bồi dưỡng tại chỗ thông qua sinh hoạt tổ chuyên môn. Hình thức “nghiên cứu bài học” là một phương pháp hiệu quả, trong đó giáo viên cùng nhau thiết kế một bài giảng, một người dạy minh họa và cả tổ cùng dự giờ, phân tích, rút kinh nghiệm. Ngoài ra, việc mời chuyên gia, giáo viên giỏi từ các trường khác đến chia sẻ kinh nghiệm, hoặc tổ chức hoạt động bồi dưỡng thường xuyên qua các nền tảng trực tuyến cũng giúp giáo viên tiếp cận với những kiến thức mới một cách linh hoạt. Sự đa dạng này giúp đáp ứng các phong cách học tập khác nhau của giáo viên, làm cho quá trình phát triển chuyên môn giáo viên THCS trở nên sinh động và thiết thực hơn.

4.2. Tăng cường kiểm tra giám sát và đánh giá năng lực giáo viên

Để đảm bảo chất lượng, công tác quản lý nhà trường phải bao gồm một quy trình kiểm tra, giám sát và đánh giá chặt chẽ. Việc đánh giá không chỉ dựa trên kết quả các bài kiểm tra sau bồi dưỡng mà phải tập trung vào sự thay đổi trong thực tiễn giảng dạy của giáo viên. Cán bộ quản lý cần thường xuyên dự giờ, quan sát cách giáo viên tổ chức lớp học, cách tương tác và hỗ trợ các nhóm học sinh khác nhau. Việc đánh giá năng lực giáo viên cần dựa trên các tiêu chí rõ ràng, gắn với chuẩn nghề nghiệp và yêu cầu của dạy học phân hóa. Kết quả đánh giá là cơ sở để ghi nhận sự tiến bộ của giáo viên, đồng thời xác định những nội dung cần tiếp tục bồi dưỡng trong giai đoạn tiếp theo, tạo thành một chu trình cải tiến liên tục.

11/09/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực dạy học phân hóa cho giáo viên ở các trường trung học cơ sở huyện lâm thao tỉnh phú thọ theo chương trình giáo dục phổ thông 2018

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE QUAN LÝ HOAT ĐỘNG BOI DUONG NĂNG LỰC DẠY HỌC PHÂN HÓA CHO GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỎ THÔNG 2018 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về dạy học phân hóa trên thế giới Theo một số nhà giáo dục học trên thế giới, DHPH được xem như là một quá trình để điều chỉnh nội dung dạy học, kế hoạch dạy học va môi trường hoc nhằm đáp ứng được nhu cầu học tập đa dạng của tất cả các em học sinh thuộc mọi lứa tuổi khác nhau. Tư tưởng dạy học (DH) hướng vào khai thác tiềm năng của mỗi cá nhân học sinh đã được các nhà giáo dục như J.

nhắn mạnh rang. “DH phải đáp ứng nhu cầu của người học” [58]. Cuối thế kỷ XX, DHPH được nghiên cứu, vận dụng ở rất nhiều nước trên thế giới và phát triển nhất ở Mỹ. Nghiên cứu về DHPH được phát triển từ những thành tựu nghiên cứu trước đó, các nhà giáo dục học đều cho rằng, cơ sở khoa học của DHPH xuất phát từ các lý thuyết nền tảng sau: - Lý thuyết vùng phát triển của L.Vygotsky cho rằng HS khác nhau không chỉ ở vùng phát triển hiện tại mà còn khác nhau trong vùng phát triển gần nhất.

Do đó, DH cần tôn trọng và khai thác vốn sống, xây dựng việc học dựa trên mức độ vừa sức với mỗi HS [58]. - Thuyết đa trí tuệ cua Gardner (1993) cho rằng, mỗi người đều có ít nhất 8 loại trí tuệ khác nhau (trí tuệ ngôn ngữ, trí tuệ logic-toán, không gian, cơ thé- vận động, âm nhạc, hướng ngoại, hướng nội, tự nhiên, hiện sinh và trí tuệ đạo đúc). Quan điểm dang sau thuyết đa trí tuệ là việc đáp ứng nhu cầu của mỗi HS bằng cách áp dụng các chiến lược học tập khác nhau với từng loại trí tuệ [33]. - Lý thuyết học tập trải nghiệm của David Kold (1984) đưa ra mô hình về phong cách học tập (PCHT) với 4 kiểu phong cách: hội tụ (converging), phân kỳ (diverging), đồng hóa (assimilating), điều chỉnh (acconmodating).

Trên cơ sở phát triển lý thuyết này của Kold, Honey và Mumyord đã xây dựng bộ công cụ phân loại 4 PCHT cơ bản: người học hành động (activist), người học phan ứng (reflector), người học thực dụng (pramatist), người học lý thuyết (theorist) [49]. Quan điểm khác nhau của Nei Fleming (1987) đưa ra mô hình PCHT VAK (Visual- Nhìn; Anditory — Nghe; Kinaes thetic — vận động) [49]. Tiếp theo năm 1978, trong cuốn sách “dạy sinh viên thông qua PCHT cá nhân của họ” của Rita Dunn và Keneth Dunn, tác gia đã xây dựng được công cụ đánh giá PCHT cho sinh viên [49]. Có thé nói 3 lý thuyết trên là nền tảng quan trọng cho sự ra đời của tư tưởng DHPH [18].

Trên cơ sở các lý thuyết này, DHPH được nghiên cứu cả về lý thuyết, thực hành và trở thành trào lưu rộng khắp ở Mỹ, Canada, Tây Âu. Về mặt lý thuyết, các nghiên cứu của Hall (2002), Batt & Lewis (2005), Brimijoin & Narvaer (2008). đều công nhận vai trò quan trọng của DHPH. Theo đó, khi tiến hành DHPH, GV điều chỉnh quá trình DH cho phù hợp với trình độ, sở thích, phong cách của HS.

Hiam Giott (1972) cho rang, chính giao dục va hoạt động của ho trong lớp hoc là nhân tố quyết định một đứa trẻ có hứng thú hay không với việc học tập. Trong thực tế việc kết nối cảm xúc của GV với người học đóng góp vào gia tăng thành tích học tập (Allen, Gregory, Mikami, Hamre & Pianta, 2012, Haltie, 2009). Điều đó có nghĩa là trong một lớp học phân hóa, GV phải làm hài hòa và đáp ứng các nhu cầu khác nhau của người học. Đối với giáo dục ở nước Mỹ: Năm 1990, loại hình “trường học tự chọn” xuất hiện đầu tiên ở bang Virgrinia, sau đó được áp dụng rộng rãi ở một số bang hoặc vùng miền của các nước đang phát triển.

Đây là trình độ cao của dạy học tự chọn ở Mỹ. Trong các trường có tô chức dạy học tự chọn, HS được chọn từ nội dung, phương pháp, thời gian dành cho mỗi môn học đến GV dạy từng môn học của mình, nhưng được thực hiện một cách linh hoạt dé dam bảo mọi HS đều tham gia và hiểu bài. Mỗi HS ở đây được học theo một chương trình, kế hoạch học tập và thời khoa biểu riêng thích hợp với năng lực và nguyện vọng cá nhân. Xu thế giáo dục hướng tới cá nhân làm cho hình thức DH tự chọn ngày càng chiếm ưu thế hơn so với hình thức phân ban và có thể trở thành hình thức phân hóa giáo dục chủ yếu được áp dụng trong thế kỷ này [18].

Đối với giáo dục ở Pháp: Hệ thống giáo dục của Cộng hòa Pháp là đại diện cho mô hình hệ thống giáo dục Châu Âu cô điển. Nội dung giáo dục hướng nghiệp trong trường trung học ở Pháp (cao trung) được phân hóa thành nhiều ban hẹp, trong đó phan lớn là các ban kĩ thuật- công nghệ bao gồm nhiều môn văn hóa phổ thông và kĩ thuật nghề nghiệp. Kế hoạch dạy học ở tất cả các cấp học trong trường phổ thông của Pháp đều gồm có các môn văn hóa phố thông và các môn kĩ thuật — công nghệ với nội dung được thiết kế cho phù hợp với mục tiêu dao tạo của từng cấp theo hướng tích hợp từ cấp I, sau đó phân hóa sâu ở cấp II và cấp III theo từng phân ban. Để chuẩn bị cho việc phân luồng học sinh THCS vào ba loại trường THPT (ba loại trường cao trung: trường trung học phổ thông, trường trung học công nghệ và trường trung học nghề), từ cuối cấp THCS (lớp 9) việc phân hóa được thực hiện bằng hình thức phân ban va dạy học tự chọn.

Lớp 9 có hai ban là ban phổ thông (còn gọi là ban ngôn ngữ) và ban công nghệ. Ở mỗi ban đều có các môn học bắt buộc, các môn học tự chọn bắt buộc va các môn hoc tùy chọn (lựa chọn tùy ý). Các HS học xong ban ngôn ngữ của trường THCS được hướng tiếp tục học lên trường THPT, còn các HS học xong ban công nghệ của trường THCS được hướng tiếp tục học lên các trường trung học công nghệ và trung học nghề. Đối với giáo dục ở Trung Quốc: Nội dung day học ở các trường phô thông trung học bao gồm các môn văn hóa chung, các môn khoa học, kĩ thuật và lao động.

Trong kế hoạch dạy học đã hình thành các môn học tự chọn ở các năm cuối bậc cao trung. Nội dung các môn tự chọn được xác định trên cơ sở nhu cầu của học sinh; nhu cầu xã hội, điều kiện cụ thể của nhà trường. Môn học tự chọn có thể là một môn học mới hoặc là một phần của môn học bắt buộc được biên soạn với nội dung mở rộng và sâu hơn. Hiện nay trong chương trình giảng dạy thường có các môn học tự chọn sau: máy tính, vẽ kĩ thuật, kĩ thuật điện, hải dương học, y học cơ sở, văn học, ngoại ngữ,.

Mục tiêu của các môn học này là trang bị cho học sinh những kiến thức và kỹ năng chuyên môn cần thiết để học sinh có khả năng tham gia lao động nghề nghiệp ở các lĩnh vực kinh tế- xã hội khác nhau hoặc tiếp tục học lên trình độ nghề nghiệp cao hơn ở bậc đại học Từ những xu thế trên có thé rút ra được một số nhận xét sau: - Tất cả các nước phát triển và các nước đang phát triển hàng đầu thế giới đều thực hiện dạy học phân hóa ở bậc Trung học, thậm chí cả ở bậc Tiểu học. Trong đó ở cấp trung học cơ sở, ngoài các môn học bắt buộc, việc phân hóa trong giáo dục chỉ được thực hiện bằng các môn học tự chọn. Dù thực hiện dạy học phân hóa bằng cách nào, các nước đều quy định những môn học bắt buộc để đảm bảo mặt bằng chung của học vấn phổ thông. - Xu hướng dạy học phân hóa ở nhiều nước được thực hiện bằng cách định hướng hoặc phân luồng cho các môn học tự chọn.

Các định hướng nảy tạo cho HS các cơ hội lựa chọn cho mình hướng dọc lên phù hợp với năng lực, sở thích, nguyện vọng và các điều kiện riêng khác của mỗi HS. Tuy nhiên, đồng thời với xu hướng phân hóa này, các nước đều rất chú ý tới việc xác định và quy định các môn học bắt buộc, trong đó nhiều môn được xây dựng theo kiểu tích hợp một số môn. Có thê nói xu thế dạy học phân hóa và dạy học tích hợp được kết hợp chặt chẽ, giúp đảm bảo một nền giáo dục hài hòa, toàn diện mà vẫn chuyên sâu hợp lí. - Sự phát triển mạnh mẽ của xã hội và sản xuất đòi hỏi một thị trường lao động đa dạng, chuyên sâu ở các mức độ khác nhau và luôn thay đổi.

Tất cả những điều này đòi hỏi nền giáo dục, với một trong các chức năng rất quan trọng là đào tạo nhân lực, phải đa dạng và có thể chuyên đổi linh hoạt, mềm dẻo sao cho đáp ứng được tối đa nhu cầu của xã hội và sản xuất, cũng như đáp ứng được tối đa năng lực, hứng thú, sở thích, nguyện vọng và nhiều điều kiện cá nhân khác của mỗi học sinh. Mô hình thích hợp đối với một nền giáo dục như vậy là mô hình phân hóa, trong đó càng ở lớp trên thì sự phân hóa được thực hiện với nhiều ban hoặc nhiều luồng và phân hóa sâu [30]. - Việc thực hiện dạy học phân hóa bằng cách phân ban, phân ban kết hợp với dạy học tự chọn hoặc hoàn toàn tự chọn đòi hỏi những cần thiết sau: + Trình độ cao của năng lực quản lý từ cấp trung ương, tới các sở và tới từng trường. Chang hạn như: tổ chức xây dựng các loại chương trình ở cấp độ khác nhau (quốc gia, địa phương và từng trường) và tô chức biên soạn các giáo trình cho các môn khác nhau ở các trình độ khác nhau (giáo trình côt lõi, giáo trình nâng cao và 10 giáo trình cho các nghè); tô chức chi đạo, thanh tra và giám sát chuyên môn; tô chức quản lý, chỉ đạo và theo dõi việc giảng dạy của giáo viên, đặc biệt là tổ chức, quản lý và theo dõi tiến trình học tập nói chung và các môn tự chọn nói riêng của mỗi trường.

+ Đội ngũ giáo viên phải có trình độ chuyên môn vững vàng dé có thể giảng dạy được các loại giáo trình được biên soạn ở trình độ khác nhau cho mỗi môn học (bắt buộc và tự chọn), phải dạy được các giáo trình đó theo tiến độ và trình tự mà học sinh lựa chọn và yêu cầu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ