phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo luận văn dự kiến đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận về tổ chức hoạt động kiểm tra đánh giá năng lực học tập môn Ngữ Văn ở trƣờng THPT Chƣơng 2: Thực trạng tổ chức kiểm tra đánh giá năng lực môn Ngữ văn ở Trƣờng THPT Phạm Hồng Thái, quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội Chƣơng 3: Một số biện pháp tổ chức kiểm tra đánh giá hƣớng vào phát triển năng lực học môn Ngữ văn cho học sinh Trƣờng THPT Phạm Hồng Thái, quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ MÔN NGỮ VĂN HƢỚNG VÀO PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO HỌC SINH TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề liên quan đến đề tài 1. Nghiên cứu ngoài nước 1. Về lí luận kiểm tra đánh giá học sinh phổ thông trên thế giới Trên thế giới, việc kiểm tra đánh giá nói chung hay đánh giá ở phổ thông nói riêng từ lâu đã thay đổi theo quan điểm mới: Coi ngƣời học (learner) và quá trình học tập (learning) là trung tâm của toàn bộ hoạt động giáo dục.
Ba đặc trƣng quan trọng của xu hƣớng mới về kiểm tra đánh giá là: đánh giá phát triển, đánh giá thực tiễn và đánh giá sáng tạo. Đánh giá phát triển (Fomative Assessment: “Đây là thuật ngữ đƣợc đề cập nhiều trong các công trình nghiên cứu về xu hƣớng kiểm tra đánh giá mới, dùng với nghĩa đánh giá quá trình tại những thời điểm khác nhau nhƣ đánh giá chất lƣợng đầu vào (PreTest) hoặc đánh giá khi kết thúc một quá trình dạy-học, đánh giá tổng kết (Summative Assessment). Đánh giá quá trình cũng đƣợc coi là đánh giá thƣờng xuyên gắn với quá trình học tập là một loạt các quy trình đánh giá chính thức và không chính thức đƣợc thực hiện bởi nhiều GV trong quá trình học tập, rèn luyện của ngƣời học, để thay đổi hoạt động dạy-học nhằm cải thiện thành tích đạt đƣợc của họ. Nó liên quan đến thông tin phản hồi về chất lƣợng học tập, rèn luyện của HS cho cả GV và HS.
Mối quan tâm của đánh giá quá trình là hiệu quả của hoạt động giảng dạy trong quá trình phát triển năng lực của người học, chứ không chứng minh HS đạt đƣợc một mức thành tích nào đó. Đánh giá tổng kết là để xác định kết quả học tập ở một giai đoạn nào đó, nó góp phần thực hiện chức năng đánh giá để phục vụ công tác quản lí. Mục tiêu của đánh giá tổng kết là đo mức độ thành tích đạt đƣợc của HS và thông qua đó, đánh giá thành tích của GV, của nhà trƣờng, sau một quá trình dạy – học. Đánh giá này không quan tâm đến HS đạt đƣợc thành tích đó nhƣ thế nào, mà chỉ quan tâm đến điểm số của từng HS, hoặc điểm trung 6 bình của HS trong một lớp, một trƣờng, một vùng;trên cơ sở đó so sánh HS này với HS khác, trƣờng này với trƣờng khác, suy rộng ra vùng này với vùng khác”.
Nhứng vấn đề này đƣợc các tác giả nghiên cứu nƣớc ngoài đề cập [33, tr. Đánh giá thực tiễn (Authentic Assessment): “Bao gồm mọi hình thức và phƣơng pháp KTĐG đƣợc thực hiện với mục đích KT các năng lực cần có trong cuộc sống hằng ngày và đƣợc thực hiện trong bối cảnh thực tế. Cách đánh giá này nhấn mạnh mối liên hệ chặt chẽ giữa yêu cầu của đánh giá với thực tế cuộc sống. Đánh giá này khác với đánh giá truyền thống, chỉ dựa vào đánh giá trên giấy thông qua bài viết tự luận hoặc trắc nghiệm khách quan” [33, tr.
Đánh giá sáng tạo (Alternative Assessment): “Đánh giá sáng tạo nhấn mạnh sự mới mẻ, đa dạng và sáng tạo của những cách thức KTĐG. Trong mô hình này, HS, GV và có khi cả phụ huynh, chọn một số mảng hoạt động, những thành tích hay điểm KT môn học, kĩ năng viết, nói của HS qua các năm, để chứng minh rằng việc học của họ đƣợc cải thiện trong quá trình nhiều năm liên tục. Đặc điểm của ĐG sáng tạo là nhấn mạnh chứng cứ quá trình học tập như là một minh chứng tích cực của kiến thức và kĩ năng. ĐG sáng tạo khuyến khích sự tham gia của HS trong ĐG thành tích và khả năng đạt đƣợc, có sự tƣơng tác của HS này với HS khác, giữa GV với HS và có khi cả cha mẹ và cộng đồng [24, tr.
Về thực tiễn áp dụng kiểm tra đánh giá của giáo dục trên thế giới Đối với đánh giá năng lực và đánh giá môn học: “Xu hƣớng đánh giá mới của thế giới là đánh giá dựa theo năng lực (Competence base assessment), tức là “đánh giá khả năng tiềm ẩn của HS dựa trên kết quả đầu ra cuối một giai đoạn học tập, là quá trình tìm kiếm minh chứng về việc HS đã thực hiện thành công các sản phẩm đó”. Việc KTĐG kết quả học tập hoàn toàn giao cho GV và HS chủ động, phƣơng pháp ĐG đƣợc sử dụng đa dạng, sáng tạo và linh hoạt. Đánh giá năng lực nhằm giúp GV có thông tin kết quả học tập của HS để điều chỉnh hoạt động giảng dạy; giúp HS điều chỉnh hoạt động học tập; giúp GV và nhà trƣờng xác nhận, xếp hạng kết quả học tập. Nhiều quốc gia đã đẩy mạnh đánh giá quá trình bằng các hình thức, phƣơng pháp đánh giá không truyền thống nhƣ quan sát, phỏng vấn, hồ sơ, dự án, trình diễn thực, nhiều ngƣời cùng tham gia, HS tự đánh giá.
Đánh giá kết quả học tập thông qua dự án hoặc nghiên cứu nhóm đƣợc chú trọng” [2, tr. 7 Đánh giá đạo đức và sự phối hợp giữa nhà trƣờng và phụ huynh trong việc đánh giá HS đƣợc các trƣờng coi trọng. Ví dụ, cách nhận xét, đánh giá về HS của một trƣờng ở Canada nhƣ sau: “Sau mỗi học kì, cha mẹ học sinh đều nhận đƣợc một bản nhận xét với 9 nội dung chủ yếu sau: (i) Kĩ năng làm việc độc lập; (ii) Năng lực sáng tạo;(iii) Mức độ hoàn thành các bài tập; (iv) Năng lực sử dụng công nghệ thông tin;(v) Khả năng hợp tác với những ngƣời xung quanh;(vi) Khả năng giải quyết những xung đột của cá nhân; (vii) Mức độ tham gia các hoạt động tập thể của lớp; (viii) Khả năng giải quyết vấn đề; và (ix) Khả năng biết đặt mục tiêu để hoàn thiện trong tƣơng lai” [19]. ĐG HS thông qua các kì thi: “Ngoài đánh giá trên lớp, hầu hết các quốc gia đều ĐG HS thông qua các kì thi nhƣ: Tuyển sinh đầu cấp học; thi tốt nghiệp các cấp và tuyển sinh đại học.
Thi tốt nghiệp các cấp học: Còn rất ít quốc gia thi tốt nghiệp Tiểu học. Hầu hết các quốc gia đều tổ chức kì thi tốt nghiệp THPT quốc gia, ngoại trừ Hàn Quốc. Xu hƣớng chung là đa dạng hóa các hình thức đánh giá và các loại bằng cấp khác nhau để thực hiện phân hóa theo năng lực HS. Còn Tuyển sinh đại học, hầu hết các quốc gia đều sử dụng một số tiêu chí tuyển sinh nhƣ điểm 3 kì thi (thi tốt nghiệp THPT, thi tuyển sinh và thi chuẩn hóa năng lực), kết quả học tập ở cấp THPT, hồ sơ dự tuyển (bài tự luận theo chủ đề, thƣ giới thiệu.) và yếu tố nhân thân nhƣ dân tộc, vùng khó khăn” [32, tr.
Tóm lại, trong hơn 3 thập kỉ qua, KTĐG đối với giáo dục phổ thông quốc tế đã có những bƣớc tiến rất lớn cả về lí luận và thực tiễn. Thể hiện rõ xu hƣớng KTĐG của thế giới là hƣớng đến ĐG năng lực HS, phƣơng pháp, cách thức ĐG rất đa dạng, sáng tạo và linh hoạt. Thế giới áp dụng đánh giá năng lực môn ở Ngữ văn Các Quốc gia hƣớng theo đánh giá năng lực. Gv chủ động kiểm tra và thu thập thông tin để từ đó có những điều chỉnh đối với năng lực học sinh và phát triển năng lực môn học.
Chẳng hạn, “ở Hoa Kì, để KTĐG mức độ tiếp nhận và cảm thụ văn học của HS về một tác phẩm nào đó, GV yêu cầu HS thành lập nhóm để phân tích nội dung, nghệ thuật của tác phẩm đó và có thể lập dự án tham quan bảo tàng của nhà văn. Qua phân tích của nhóm và qua chuyến tham quan, HS phải viết thu 8 hoạch, trình bày nhóm trƣớc lớp. Với cách này, HS có quyền tự do làm bài theo hiểu biết của mình, trao đổi, tƣơng tác với nhau, tìm hiểu từ thực tế, vận dụng nhiều kiến thức của nhiều môn học khác nhau, hợp tác nghiên cứu có thể đƣa ra nhiều nhận định sáng tạo. Đây là hình thức học tập mang tính tích hợp cao, GV và HS cùng tham gia ĐG kết quả của từng nhóm” [26, tr.
Trong thực tiễn của giáo dục thế giới: Về KTĐG HS, các nƣớc không chỉ đạt đƣợc những thành tựu mới về lí luận mà đã thành công trong việc triển khai thực tiễn ở các trƣờng học. Nghiên cứu trong nước Trong những năm vừa qua, khoa học về KTĐG của Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực, nhƣng nhìn chung vẫn còn chậm và chƣa bắt kịp với thế giới. Định hướng chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá Chiến lƣợc phát triển giáo dục giai đoạn 2011 – 2020 ban hành kèm theo Quyết định 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tƣớng Chính phủ chỉ rõ: "Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học"; "Đổi mới kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông, kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng theo hướng đảm bảo thiết thực, hiệu quả, khách quan và công bằng; kết hợp kết quả kiểm tra đánh giá trong quá trình giáo dục với kết quả thi". Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI, đặc biệt là Nghị quyết Trung ƣơng số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 chỉ đạo về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, giáo dục phổ thông trong phạm vi cả nƣớc đang thực hiện đổi mới đồng bộ các yếu tố: mục tiêu, nội dung, phƣơng pháp, hình thức tổ chức, thiết bị và đánh giá chất lƣợng giáo dục.
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo các địa phƣơng, cơ sở giáo dục tiếp tục đổi mới nội dung, phƣơng pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp với việc đổi mới phƣơng pháp, hình thức tổ chức dạy học theo định hƣớng phát triển năng lực học sinh [30].