phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc trình bày theo 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận về Giáo dục thể chất và quản lí hoạt động GDTC ở trƣờng Tiểu học. Chƣơng 2: Thực trạng công tác GDTC và quản lí hoạt động Giáo dục thể chất của các trƣờng Tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dƣơng. Chƣơng 3: Các biện pháp quản lí hoạt động Giáo dục thể chất ở các trƣờng Tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dƣơng. 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC THỂ CHẤT VÀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THỂ CHẤT Ở TRƢỜNG TIỂU HỌC 1.
Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở ngoài nước Ở những năm 50 của thế kỷ XX, trong hàng loạt những công trình nghiên cứu có tính hàn lâm của các nhà khoa học Liên Xô cũ, đã xuất hiện các đề tài về những khía cạnh khác nhau của QLGD. Năm 1956, lần đầu xuất hiện cuốn “QL trƣờng học” (Skolovedenie) của tác giả A.Pôpốp, một nhà sƣ phạm và QLGD của Liên Xô cũ. Cuốn sách này, về thực chất, không phải là một công trình khoa học về QLGD, mà là cả một tập hợp khá hoàn chỉnh các chỉ dẫn cho hoạt động thực tiễn của những ngƣời làm công tác QLGD, đặc biệt là QL trƣờng học, trong đó có QL hoạt động DH [34].
Quá trình phát triển GD Xô Viết (cũ), nhiều nhà nghiên cứu khoa học GD đã lần lƣợt cho ra đời những tài liệu vừa có tính khoa học, vừa có tính thực tiễn về QL hai quá trình sƣ phạm chủ yếu diễn ra trong nhà trƣờng: QL quá trình DH (trong đó có QL hoạt động DH) và QL quá trình GD. Sự tập trung của những kiến giải đó đƣợc thể hiện cụ thể trong các tác phẩm xuất bản vào giữa những năm 70.I Kôndakốp, nhà lý luận và hoạt động thực tiễn xuất sắc của Liên Xô (cũ) đã dày công nghiên cứu những vấn đề về QLGD [25]. Vào năm 1987, Viện QL và Kinh tế GD thuộc Viện Hàn lâm sƣ phạm (Liên Xô cũ) đã tổng kết những thành tựu nghiên cứu về QL trƣờng học qua nhiều năm, trình bày những quan điểm mới nhất về QLGD nói chung và QL hoạt động DH nói riêng của các học giả Xô Viết (cũ) tính đến thời điểm đó [25]. Vì thế, trong những công trình nghiên cứu của mình, các nhà nghiên cứu QLGD Xô Viết cho rằng: “Kết quả toàn bộ hoạt động của nhà trƣờng phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lý công tác hoạt động của đội ngũ GV” [40].
7 Ngay từ khi chủ nghĩa Mác-Lênin ra đời đã hình thành nên quan điểm con ngƣời phát triển toàn diện và đƣợc coi quá trình giáo dục là thể thống nhất gồm ba mặt hữu cơ không thể tách rời “Giáo dục trí tuệ - Giáo dục thể chất – Giáo dục kĩ thuật”, đã khẳng định sự kết hợp Giáo dục thể chất với các mặt khác không chỉ là một phƣơng tiện để nâng cao sản xuất xã hội mà còn là phƣơng thức duy nhất để tạo con ngƣời phát triển một cách toàn diện. Chủ nghĩa Mác-Lênin coi Giáo dục thể chất là một bộ phận hữu cơ và không thể thiếu đƣợc của giáo dục toàn diện và đặt vị trí GDTC ngang hàng với các mặt giáo dục khác. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã chứng tỏ ý nghĩa quan trọng của GDTC nhƣ là một phần không chỉ của giáo dục nói chung mà của toàn bộ quá trình phát triển của con ngƣời, trong đó có đào tạo giáo viên trong sự nghiệp đổi mới của mỗi quốc gia. Ở Liên Xô trƣớc đây quan điểm GD con ngƣời toàn diện đã đƣợc V.Lênin quan tâm và phát triển, ngƣời ta vạch ra mối tƣơng quan giữa GD và điều kiện vật chất xã hội đồng thời làm phong phú thêm cho tƣ tƣởng Mác-Ăng ghen đƣợc áp dụng cho chế độ xã hội chủ nghĩa.
Lênin là ngƣời đầu tiên đƣa GDTC là bộ phận quan trọng để tăng cƣờng và củng cố sức khỏe cho toàn dân nhằm nâng cao hiệu quả năng suất lao động, sẵn sàng chiến đấu và bảo vệ thành quả cách mạng của mình. Các nghiên cứu ở Việt Nam Trong thời kỳ mới của cách mạng Việt Nam trƣớc hết phải nói đến quan điểm phát triển giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890 - 1969). Bằng việc kế thừa những tinh hoa của các tƣ tƣởng giáo dục tiên tiến và việc vận dụng sáng tạo phƣơng pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, Ngƣời đã để lại cho chúng ta nền tảng lý luận về vai trò của giáo dục, định hƣớng phát triển giáo dục, mục đích dạy học, các nguyên lý dạy học, các phƣơng thức dạy học, vai trò của quản lý và cán bộ quản lý giáo dục, phƣơng pháp lãnh đạo và quản lý. Thực tiễn đã khẳng định rằng: Hệ thống các tƣ tƣởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về 8 giáo dục có giá trị cao trong quá trình phát triển lý luận dạy học, lý luận giáo dục của nền giáo dục cách mạng Việt Nam.
Giáo dục và phát triển giáo dục trong nhà trƣờng có ý nghĩa to lớn trong việc phát huy và bồi dƣỡng nhân tố con ngƣời. Đồng thời góp phần nâng cao thể lực giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống lành mạnh, làm phong phú đời sống văn hóa và phát huy tinh thần dân tộc của con ngƣời Việt Nam, tăng cƣờng và giữ vững an ninh quốc phòng cho đất nƣớc. Bác Hồ đã dạy: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nƣớc nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới thành công. Trong suốt các chặng đƣờng lãnh đạo của cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn coi trọng GDTC là một bộ phận quan trọng của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa nhằm đào tạo thế hệ trẻ phát triển toàn diện, có tri thức, đạo đức và hoàn thiện về thể chất.
Quan điểm này của Đảng đã đƣợc thể hiện trong văn kiện các lần đại hội Đảng toàn quốc từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, Đảng ta đã nêu rõ: “… Con ngƣời là vốn quý nhất của chế độ XHCN, bảo vệ và bồi dƣỡng sức khỏe của con ngƣời là nghĩa vụ và mục tiêu cao quý của ngành y tế, TDTT…. Năm 1961 trong nghị quyết TW8 khóa III, Đảng ta đã chỉ thị: “Bắt đầu đƣa việc dạy Thể dục và một số môn thể thao cần thiết vào chƣơng trình học tập của các trƣờng phổ thông, chuyên nghiệp và đại học” Tháng 6 năm 1975, khi miền Nam mới đƣợc giải phóng, Đảng ta đã ra chỉ thị 221 CT/TW về công tác giáo dục ở miền Nam sau ngày giải phóng. Chỉ thị đã nêu rõ: “Nội dung giáo dục phổ thông phải toàn diện, bao gồm giáo dục chính trị và đạo đức cách mạng, giáo dục văn hóa khoa học, giáo dục kỹ thuật, giáo dục lao động và Giáo dục thể chất”. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV năm 1976, tổng bí thƣ Lê Duẩn lại một lần nữa nhấn mạnh “… cần nâng cao chất lƣợng toàn diện của nội dung giáo dục, hiện đại hóa chƣơng tình học tập khoa học và kỹ thuật, mở rộng kiến thức quản lí kinh tế.
Coi trọng đúng mức giáo dục thẩm mỹ, TDTT và tập luyện quân sự”. 9 Năm 1986 trong báo cáo chính trị của Ban chấp hành TW Đảng khóa VI đã tiếp tục nhấn mạnh: “Mở rộng và nâng cao chất lƣợng phong trào TDTT…nâng cao chất lƣợng GDTC trong các trƣờng học”. Trong Văn kiện hội nghị lần thứ 4 của Ban chấp hành TW Đảng khóa VII năm 1991, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “… cần coi trọng nâng cao chất lƣợng GDTC trong các trƣờng học” [14]. Trong văn kiện đại hội Đảng các khóa VIII, IX, Đảng ta đều tái khẳng định cần phải nâng cao chất lƣợng giáo dục toàn diện, cần đổi mới tạo chuyển biến rõ rệt về chất lƣợng và hiệu quả GDTC đào tạo nguồn nhân lực chất lƣợng cao, đáp ứng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc [15,16].
Về phạm trù GDTC trong nhà trƣờng, trong cuốn Tuyển tập nghiên cứu khoa học Giáo dục thể chất, y tế trƣờng học (Bộ GD&ĐT, NXB TDTT năm 2006), đã công bố công trình nghiên cứu của các tác giả trong lĩnh vực GDTC và y tế trƣờng học. Trong số các nghiên cứu này có thể kể đến công trình của Ngũ Duy Anh và Vũ Đức Thu trong đề tài Định hƣớng chiến lƣợc tăng cƣờng GDTC, bảo vệ, chăm sóc sức khỏe học sinh trong nhà trƣờng phổ thông các cấp đến năm 2010. Đề tài này, các tác giả đã đƣa ra mục tiêu định hƣớng lâu dài, mục tiêu trƣớc mắt 2003 - 2010 và đồng thời đƣa ra các giải pháp chiến lƣợc nhằm thực hiện để đạt đƣợc mục tiêu đề ra [2]. Trong nghiên cứu khoa học của tác giả Ngũ Duy Anh và Trần Văn Lam với nội dung Nghiên cứu thực trạng và giải pháp nâng cao công tác GDTC trƣờng học các tác giả đã đánh giá thực trạng về các hoạt động GDTC đồng thời vạch ra những khó khăn yếu kém và đề ra mục tiêu, giải pháp để khắc phục những hạn chế còn tồn tại.
Phạm vi nghiên cứu đề tài này thực hiện trên các địa phƣơng cả nƣớc do đó nó thể hiện đƣợc bức tranh tổng thể công tác GDTC. Những hạn chế của nó là chƣa thể hiện đƣợc sự khác biệt giữa các vùng miền, địa phƣơng và các giải pháp tƣơng ứng. Trong các đề tài tiếp theo có thể kể đến công trình nghiên cứu của tác giả Hoàng Công Dân với đề tài Nghiên cứu biện pháp phát triển thể chất cho học sinh các trƣờng trung học phổ thông dân tộc nội trú khu vực miền núi phía bắc. Đề tài đã đánh giá đƣợc thực trạng phát triển thể chất của học sinh các trƣờng 10 dân tộc nội trú và cũng đề ra các biện pháp nhằm tăng cƣờng thể chất cho đối tƣợng học sinh này.
Biện pháp chủ yếu là bám sát nội dung chƣơng trình dạy học để tăng cƣờng thể lực, trang bị kỹ năng cho học sinh tốt hơn. Nói tóm lại, các tác giả Việt Nam cũng nhƣ nƣớc ngoài nghiên cứu và đƣa ra nhiều biện pháp quản lý hoạt động dạy học nói chung cũng nhƣ quản lý hoạt động Giáo dục thể chất nói riêng nhằm tăng cƣờng thể chất cho học sinh ở trƣờng phổ thông là rất quan trọng. Trên thực tế nghiên cứu hoạt động GDTC và quản lí hoạt động GDTC là chƣa nhiều. Đặc biệt là trên địa bàn TX Bến Cát, tỉnh Bình Dƣơng đó chính là lí do thúc đẩy chúng tôi nghiên cứu.
Một số khái niệm 1. Khái niệm quản lí Trong xã hội quản lí là hoạt động bao trùm mọi mặt đời sống xã hội.