Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUAN HỆ CHA MẸ NUÔI – CON NUÔI 1. Khái niệm chung về nuôi con nuôi 1. Khái niệm con nuôi Con nuôi là khái niệm được dùng để phân biệt với khái niệm con đẻ. Con đẻ là người con được sinh ra từ chính người mẹ, có cùng huyết thống và mang gen di truyền của người mẹ.
Khi một đứa trẻ được sinh ra mà không cùng huyết thống với người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục thì đứa trẻ đó có thể được gọi là con nuôi. Đứa trẻ được người không sinh ra mình nhận nuôi dưỡng, chăm sóc chỉ được coi là con nuôi của người nuôi dưỡng, chăm sóc khi được pháp luật công nhận trên cơ sở mong muốn xác lập quan hệ cha mẹ và con của người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc đối với đứa trẻ đó. Vì vậy, không phải bất cứ trường hợp nào việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em đều làm cho trẻ em được nhận nuôi dưỡng trở thành con nuôi của người nuôi dưỡng. Yếu tố mong muốn xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa hai bên là điều kiện quan trọng nhất để đứa trẻ được nhận nuôi trở trở thành con nuôi.
Việc xác lập mối quan hệ cha mẹ nuôi và con nuôi được thực hiện trên cơ sở tình cảm, mong muốn, nhu cầu của cả hai bên, tuy nhiên chỉ được pháp luật công nhận khi việc nuôi con nuôi được đăng ký theo đúng thủ tục, quy định của pháp luật. Theo quy định tại khoản 3 Điều 3 của Luật nuôi con nuôi năm 2010 thì con nuôi được định nghĩa như sau: “Con nuôi là người được nhận làm con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký” [31]. Như vậy, khái niệm con nuôi bao hàm một số nội dung cơ bản như sau: - Con nuôi là người được một người độc thân hoặc một cặp vợ chồng không sinh ra nhận làm con nuôi, về nguyên tắc không có quan hệ huyết thống và không mang gen di truyền của người nhận nuôi. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Con nuôi có thể có huyết thống trong phạm vi nhất định với người nhận nuôi nhưng không do người nhận nuôi sinh ra (cô, dì, chú, bác ruột nhận cháu ruột làm con nuôi).
- Người được nhận nuôi chỉ được công nhận là con nuôi của người nhận nuôi khi người được nhận nuôi đáp ứng được các điều kiện của người được nhận nuôi theo quy định của pháp luật, như điều kiện về độ tuổi, ý chí, về chủ thể (ví dụ: cháu không thể trở thành con nuôi của ông bà nội hoặc ông bà ngoại). Khái niệm nuôi con nuôi Trong xã hội, việc nuôi con nuôi là một hiện tượng khá phổ biến và thể hiện tính nhân đạo sâu sắc. Trong lịch sử xã hội loài người, việc nuôi con nuôi có thể vì các mục đích khác nhau, có thể là nhằm đáp ứng những nhu cầu, lợi ích vật chất như có thêm lao động, có người thờ tự, có người chăm sóc khi tuổi già… hay những nhu cầu, lợi ích về tinh thần, xuất phát từ lòng nhân đạo như sự cảm thông, sự chia sẻ… Ở nước ta, bên cạnh ý nghĩa tạo mái ấm gia đình cho trẻ em, vấn đề nuôi con nuôi còn góp phần đáp ứng nhu cầu chính đáng của vợ chồng nhận con nuôi, nhất là những cặp vợ chồng vô sinh, hiếm con; phụ nữ đơn thân… Hiện nay, vì lợi ích tốt đẹp của trẻ em, đặc biệt là những trẻ em có hoàn cảnh khó khăn mà việc nuôi con nuôi được xác lập và ngày càng được khuyến khích, quan tâm một cách thích đáng. Việc nuôi con nuôi có thể được xem xét ở các góc độ: - Dưới góc độ xã hội: Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha mẹ - con giữa người nuôi và người được nhận nuôi không dựa trên quan hệ huyết thống, được thiết lập trên thực tế và không phải bao giờ cũng có sự thừa nhận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Nuôi con nuôi là một quan hệ xã hội xuất hiện từ lâu trong lịch sử, hình thành trên cơ sở cá nhân “tiếp nhận những liên hệ mới mang tính chất gia đình” [18]. Trong thực tế, xuất phát từ tình yêu thương hay phong tục tập 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quán, việc nuôi con nuôi được xác lập mà không có sự công nhận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Các hình thức nuôi con nuôi danh nghĩa, nuôi con nuôi thực tế mặc dù không được sự công nhận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhưng nó vẫn tồn tại. Do đó, trong đời sống xã hội, dù được sự công nhận hay không công nhận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì việc nuôi con nuôi vẫn được xác lập, quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi vẫn tồn tại trên thực tế.
Nuôi con nuôi là một quan hệ xã hội tồn tại một cách khách quan nhằm thiết lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi trên thực tế. - Dưới góc độ pháp lý Việc nuôi con nuôi có thể được xem xét dưới hai góc độ: nuôi con nuôi là một sự kiện pháp lý và nuôi con nuôi là một quan hệ pháp luật. + Nuôi con nuôi là một sự kiện pháp lý. Sự kiện pháp lý là những sự kiện xảy ra trong thực tế và chỉ trở thành sự kiện pháp lý khi pháp luật xác định rõ điều đó [35].
Nuôi con nuôi là một sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật cha mẹ - con giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi, khi giữa họ không có quan hệ huyết thống trực hệ mà được xác lập trên cơ sở quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo ý chí, nguyện vọng của các đương sự và tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật về các điều kiện xác lập quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi. Sự kiện pháp lý nuôi con nuôi gồm các yếu tố cấu thành sau: Một là: các chủ thể có liên quan đáp ứng các điều kiện của việc nuôi con nuôi. Các chủ thể có liên quan trong quan hệ nuôi con nuôi bao gồm: cha mẹ nuôi (người nhận con nuôi), con nuôi (người được nhận làm con nuôi) và cha mẹ đẻ của người được nhận làm con nuôi. Điều kiện đối với mỗi chủ thể trong quan hệ nuôi con nuôi đều được pháp luật quy định cụ thể.
Đối với người nhận con nuôi (cha mẹ nuôi), theo Điều 14 Luật Nuôi con 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nuôi thì họ phải có đầy đủ những điều kiện về năng lực hành vi dân sự, về độ tuổi, điều kiện sức khỏe, khả năng kinh tế,…. và không thuộc những trường hợp không được nhận con nuôi như đang chấp hành hình phạt tù…. Quy định này nhằm bảo đảm cho trẻ em được nhận nuôi được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trong môi trường an toàn nhất đảm bảo và tốt nhất. Đối với người được nhận làm con nuôi, Điều 8 Luật Nuôi con nuôi quy định cụ thể về độ tuổi của trẻ em được nhận làm con nuôi.
Theo quy định thì người được nhận làm con nuôi là trẻ em dưới 16 tuổi. Trong trường hợp người được cha dượng, mẹ kế; cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi thì theo khoản 2 Điều 8 Luật Nuôi con nuôi quy định là người “đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi” [31]. Hai là: sự thể hiện ý chí của các chủ thể có liên quan. Quan hệ nuôi con nuôi chỉ được hình thành khi các bên có liên quan trong quan hệ nuôi con nuôi thể hiện ý chí trong việc cho và nhận con nuôi.
Pháp luật không thừa nhận quan hệ nuôi con nuôi khi ý chí của một trong các bên không thể hiện rõ hoặc thể hiện không đúng theo quy định của pháp luật, cụ thể: - Sự thể hiện ý chí của cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của trẻ em được cho làm con nuôi. Ý chí của những người này trong việc cho trẻ em làm con nuôi phải minh bạch và xuất phát từ sự tự nguyện thật sự của bản thân họ mà không có bất cứ sự tác động, thúc ép, dụ dỗ, hứa hẹn hoặc một áp lực nào và không nhằm mục đích trục lợi. Nói cách khác, ý chí đó phải hoàn toàn tự nguyện, độc lập. Nội dung của ý chí đó là đồng ý cho con mình làm con nuôi của người khác.
Việc cho trẻ em làm con nuôi phải có sự đồng ý của cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của trẻ em. Quy định này nhằm bảo đảm được các quyền cơ bản của trẻ em theo Công ước quốc tế về quyền trẻ em là trẻ em không bị buộc phải cách ly khỏi cha mẹ đẻ, trẻ em có quyền được sống chung với cha mẹ đẻ. Sự đồng ý hay không đồng ý của cha mẹ đẻ và người giám hộ là một 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong những điều kiện để xác lập có hay không mối quan hệ cha mẹ nuôi và con nuôi. Sự đồng ý của cha mẹ đẻ trong việc cho con làm con nuôi của người khác chỉ hợp pháp sau khi đứa trẻ sinh ra ít nhất được 15 ngày [31, Điều 4].
- Sự thể hiện ý chí của người nhận nuôi con nuôi. Người nhận nuôi con nuôi phải thể hiện ý chí của mình về việc mong muốn nhận nuôi đứa trẻ và thiết lập quan hệ cha mẹ và con với đứa trẻ đó. Ý chí, mong muốn đó của người nhận nuôi phải được thể hiện qua đơn xin nhận nuôi con nuôi. - Sự thể hiện ý chí của bản thân người con nuôi.
Khoản 1 Điều 21 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 quy định: “Trường hợp nhận trẻ em từ đủ 09 tuổi trở lên làm con nuôi thì còn phải được sự đồng ý của trẻ em đó” [31]. Với lứa tuổi này, đứa trẻ chưa được coi có năng lực hành vi đầy đủ. Trẻ em ở độ tuổi này phần nào đã có khả năng nhận thức nhất định về cuộc sống, có thể nhận biết và bày tỏ thái độ của mình mong muốn hay không mong muốn làm con nuôi người khác, cũng như cảm nhận phần nào đó được sự an toàn, thích nghi được hay không khi được cho làm con nuôi người khác, khi phải thay đổi môi trường sống… Do đó, pháp luật quy định đứa trẻ từ đủ 9 tuổi trở lên có quyền thể hiện ý chí độc lập, quyết định vấn đề có liên quan trực tiếp đến cuộc sống của mình.