Mở đầu sơ bộ về số nguyên số thực Ở THPT, mạch kiến thức về số học được đưa vào và sắp xếp trong chương trình môn Toán như sau: Bảng 1.3: Mạch kiến thức số học của THPT Lớp 10 Lớp 11 Lớp 12 Tiếp tục hoàn thiện phép Hoàn thiện số thực ở chỗ Số phức toán với số vô tỷ. Thể tiếp cận số vô tỷ siêu việt hiện ở các tính chất của như số π , e căn thức được vận dụng vào giải PT vô tỉ 1. Đặc điểm của đại số ở trường THCS Mạch nội dung kiến thức về đại số được lựa chọn, đưa vào, sắp xếp, trình bày trong chương trình SGK môn Toán ở trường phổ thông như sau: Phần đại số ở THCS thể hiện tường minh từ kì 2 môn Toán 7. Bắt đầu là khái niệm về biểu thức đại số, sau đó là đơn thức, đa thức, phân thức và trang bị các phép toán giữa chúng.
PT, BPT, hàm số dần được làm rõ ở lớp 8, lớp 9.4: Mạch kiến thức đại số của THCS Lớp 7 Lớp 8 Lớp 9 - Biểu thức đại số, giá trị - Nhân chia đa thức - Bắt đầu học về căn thức của biểu thức đại số - Phân tích đa thức thành bậc hai - Đơn thức, cộng, trừ, nhân nhân tử - Phép khai phương 9 các đơn thức - Tìm hiểu về phân thức - Biến đổi biểu thức chứa - Đa thức, cộng trừ đa thức, đại số căn bậc hai, rút gọn biểu nghiệm của đa thức một - Các tính chất của phân thức chứa căn thức bậc hai biến thức - nhắc lại và bổ sung các - Giới thiệu khái niệm về - Cộng trừ phân thức, nhân khái niệm về hàm số, hàm hàm số, đồ thị hàm số. bắt chia phân thức số bậc nhất (tập giá trị, sự đầu vẽ đồ thị hàm số y = ax - Biến đổi phân thức, giá biến thiên, đồ thị) + b (a #0) trị của phân thức. - PT bậc nhất 2 ẩn, HPT - Bắt đầu học về PT, PT bậc nhất hai ẩn. Giải bài bậc nhất một ẩn, PT tích, toán bằng cách lập HPT PT có ẩn ở mẫu, PT có trị - Hàm số y = ax2 (a ≠ 0 ), tuyệt đối (của các nhị thức đồ thị hàm số y = ax2 (a bậc nhất), giải bài toán ≠ 0 ) bằng cách lập PT - PT bậc hai một ẩn số, - Bắt đầu học về bất đẳng công thức nghiệm, hệ thức thức, BPT bậc nhất Viet Giải các dạng PT qui về bậc hai Giải bài toán bằng cách lập PT bậc hai Các kiến thức đại số còn tiếp tục được học ở THPT một cách sâu rộng hơn về hàm số, PT, HPT.
Cụ thể là: Bảng 1.5: Mạch kiến thức đại số của THPT Lớp 10 Lớp 11 Lớp 12 Các kiến thức về PT, BPT, Các kiến thức về biểu thức Tiếp tục hoàn thiện các HPT, Bất đẳng thức lượng giác, hàm số lượng kiến thức về hàm số - tiếp tục hoàn thiện về giác, PT lượng giac Khảo sát hàm số bậc 3, 4 hàm số, hàm bậc nhất, hàm Các kiến thức về đại số tổ hàm phân thức, hàm mũ, bậc hai hợp hàm logarit 1. Mối liên hệ giữa số học và đại số ở trường THCS 1. Mối liên hệ giữa số học và đại số trong môn Toán 10 Xem xét lịch sử hình thành và nội dung của Số học và Đại số ta thấy Số học và Đại số có các mối liên hệ sau đây trong toán học. a) Cả về lịch sử hình thành, phát triển cũng như về mặt khoa học toán học thì số học được xem là cội nguồn, khởi đầu, cụ thể của toán học.
Theo Kôn-mô-gô-rôp, lịch sử hình thành và phát triển toán học được chia làm 4 giai đoạn, trong đó ở giai đoạn đầu tiên (Phát sinh Toán học), số tự nhiên và phân số cùng với các phép tính số học được ra đời tạo nên nền tảng của Số học, cụ thể là: * Giai đoạn I: Giai đoạn phát sinh Toán học Căn cứ vào các tài liệu về lịch sử văn hóa của loài người và những hiểu biết từ kết quả khảo sát các bộ lạc người cổ đại còn tồn tại, các nhà nghiên cứu lịch sử Toán học đã khẳng định: chữ số là một trong những khái niệm đầu tiên của Toán học. Phép đếm và cách ghi số là một trong những phương pháp Toán đầu tiên của loài người được xuất phát từ nhu cầu thực tiễn là đếm các đối tượng. Xã hội loài người phát triển, người ta sống thành bộ lạc ngày càng đông và việc săn bắn thú vật để có thức ăn ngày một có tổ chức hơn. Khi đi săn muốn kiểm tra đồ dùng có đủ hay không, người ta phân phát đá ném, cung tên,.
cho từng người một. Từ đó nảy sinh nhu cầu đếm và thiết lập sự tương ứng một – một giữa hai tập hợp: người và công cụ. Phép tương ứng đó lặp đi lặp lại nhiều lần, lâu dài con người nhận ra có một caí gì chung cho những tập hợp như vậy, đi đến việc đặt tên cho cái chung đó Ban đầu loài người chỉ biết đếm trong tập hợp chỉ có it phần tử. Người cổ xưa đếm bằng đá, bằng que, bằng cách thắt nút dây, bằng ngón tay,.
Sau đó, do nhu cầu cần dùng các số ngày càng lớn, các kí hiệu ghi số xuất hiện và phát triển, còn chính các số thì lập thành các hệ thống. Dãy số tự nhiên cứ ngày một dài ra. Nhận thức được dãy số tự nhiên kéo dài vô hạn là dấu hiệu của một bước tiến khá dài về văn hóa và kiến thức toán học. Các hệ đếm đầu tiên bao gồm ký hiệu vị trí nhưng không phải là hệ thập phân, bao gồm các hệ cơ số 60 của hệ thống chữ số Babylon và hệ cơ số 20 của hệ thống chữ số Maya.
Bởi vì các khái niệm sử dụng chữ số này, khả năng sử dụng lại các chữ số tương tự cho các hệ đếm khác nhau đóng góp một phương pháp đơn giản và hiệu quả hơn trong tính toán. 11 Sau đó người Ấn Độ đã biết ghi số theo vị trí thập phân, lúc đầu loài người chưa biết đến số không, sau đó do nhu cầu tính toán mà đến thế kỉ V – VI ở Ấn Độ người ta đã đưa thêm số 0 vào hệ thống số và được sử dụng cho dến ngày nay Trong giai đoạn này, cùng với khái niệm số, các phép tính cộng trừ nhân chia trên số tự nhiên có điều kiện hình thành và phát triển, những kiến thức về hình học, thiên văn, lượng giác cũng được hình thành. Khái niệm trừu tượng về số, xem như là tính chất chung của mọi tập hợp đối tượng hữu hạn tương đương được củng cố dần qua ngôn ngữ, trước hết bằng lời, sau bằng những dấu hiệu, tức là chữ số. Các bài toán cụ thể đã được thay thế bằng những bài toán có dạng tổng quát hơn, giải theo những qui tắc xác định, bao gồm một loạt những trường hợp riêng.
Đậy là những hình thức đầu tiên tạo nên những thuật toán và các phép tính có liên quan. * Giai đoạn II: Toán học sơ cấp (Bắt đầu từ thế kỉ VII,V trước Công nguyên cho đến hết thế kỉ XVI) Đặc trưng bằng những thành tựu trong việc nghiên cứu các đại lượng không đổi. Đó là các khái niện cơ sở về số và hình, các tính chất và quan hệ của chúng, khái niệm PT và cách giải một số PT. Giai đoạn này kết thúc khi đối tượng chủ yếu của Toán học là quá trình các chuyển động và khi hình học giải tích và giải tích của các đại lượng vô cùng bé bắt đầu được phát triển *Giai đoạn III: Toán học cao cấp cổ điển (Bắt đầu từ thế kỉ XVII cho đến giữa thế kỉ XIX) Ở giai đoạn này, toán học của những đại lượng biến thiên được ra đời và phát triển.
Đối tượng chủ yếu của giai đoạn này là các quá trình, các chuyển động. Giai đoạn này các đại lượng biến thiên được đưa vào hình học giải tích và dẫn đến phép tính vi phân được hoàn thành bởi Niwton và Leibniz. *Giai đoạn IV: Toán học hiện đại (Bắt đầu từ giữa thế kỉ XIX cho đến nay) Giai đoạn này, đối tượng của Toán học đã mở ra rất rộng. Toán học hiện đại đã trở thành một khoa học về những quan hệ số lượng và hình dạng không tổng quát hơn mà các số, các đại lượng và các hình học thông thường chỉ là những trường hợp rất đặc biệt.
Toán học đã mở ra khả năng và phạm vi ứng dụng rất rộng lớn. 12 Như vậy trong lịch sử phát triển của Toán học thì Số học là sự khởi đầu là cội nguồn của các kiến thức Toán học. Khi Toán học phát triển Số học thực ra lại là cái cụ thể của những quan hệ tổng quát trong Toán học. b) Cả về lịch sử hình thành, phát triển cũng như về mặt khoa học toán học thì đại số được xem là sự phát triển tiếp nối, khái quát hóa để mô hình tổng quát của toán học từ số học Cội nguồn của Đại số có nguồn gốc từ người Babylon cổ đại, vốn đã phát triển một hệ thống số học tiên tiến mà họ đã có thể làm các phép tính theo phong cách thuật toán.
Người Babylon đã phát triển các công thức để tính toán các lời giải cho các bài toán mà ngày nay được giải quyết bằng cách sử dụng PT tuyến tính, PT bậc hai và PT tuyến tính không xác định. Đại số xây dựng và mở rộng số học bằng cách giới thiệu các chữ cái được gọi là các biến số để thể hiện những số chung không xác định. Điều này khiến Đại số có được phần lớn sức mạnh của nó từ việc xử lý bằng kí hiệu với các phần tử, các toán tử và các liên hệ. VD 1: Ở nhà trường HS được học rằng nếu lấy bình phương của một số trừ cho 1 thì bằng tích của số liền trước số đó với số liền sau số đó.
Chẳng hạn 42 = (4 - 1)(4 + 1) 52 = (5 - 1)(5 + 1) 62 = (6 – 1)(6 + 1) Rõ ràng mệnh đề trên vẫn đúng nếu ở vị trí số 4, 5, hoặc 6 ta thay bằng con số bất kì nào khác Nếu ta đưa một kí hiệu mới, ví dụ như x để biểu diễn một con số bất kì không có gì đặc biệt hết thì mệnh đề trên được khái quát như sau: x2 – 1 = (x – 1)(x + 1) Kí hiệu x, dùng để biểu diễn một con số bất kì, có tiềm năng giả định lớn gọi là biến số .