CHƯƠNG 1 TONG QUAN VE TIN DUNG TRUNG DAI HAN NHTM 1. Tín dụng ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Tin dung ngân hàng là một giao dịch về tài sản giữa bên cho vay (ngân hing hoặc các định chế tài chính) và bên đi vay (các cá nhân và thành phần kinh tế) trong. đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định kèm theo các điều kiện bảo đảm thỏa thuận giữa hai bên, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vốn gốc và lãi khi đến hạn thanh toán.6] Theo quy chế cho vay đối với KH tại Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của thống đốc Ngân hàng nhà nước thì “Cho vay là hình thức cấp tín dụng theo đó tổ chức tín dụng giao cho KH sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào.
mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” Theo Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 được Quốc Hội khóa XII kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16/06/2010 có hiệu lực thỉ hành từ ngày 01/01/2011 thi * Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho KH một khoản tiền để sử dụng vảo mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” Cũng theo Luật này thì “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận đề tô chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tải chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác” 1. Bản chất Từ khái niệm trên, bản chất của tín dụng là một giao dịch về tai sản trên cơ sở hoàn trả và có các đặc trưng sau: ~ Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn và tài sản từ bên sở hữu sang bên sử dụng. ~ Tài khoản giao dịch trong tín dụng ngân hàng bao gồm hai hình thức là cho. vay bằng tiền hoặc cho thuê.
~ Sự chuyển nhượng theo nguyên tắc hoàn trả theo thời gian như trong hợp. đồng thỏa thuận giữa ngân hàng và KH, sự chuyển nhượng phải dựa trên cơ sở pháp. lý như hợp đồng tín dụng, phụ lục hợp đồng. , trong đó KH cam kết với ngân hàng.
hoàn trả khi đến hạn thanh toán. ~ Giá trị hoàn trả bao gồm cả vốn gốc, lãi và các chỉ phí tín dụng liên quan. Phân loại tin dụng ngân hàng. Tín dụng NHTM sau đây gọi tắt là tín dụng bao gồm nhiều nghiệp vụ khác nhau như cho vay, bảo lãnh, cho thuê tải chính.
tuy nhiên mục đích của luận văn này chỉ xem xét tín dụng như một chức năng cơ bản của ngân hàng đó là cho vay, hơn nữa cho vay lại là hoạt động quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong hoạt động của NHTM, do đó thuật ngữ tín dụng ở đây có thể được xem xét như thuật ngữ cho vay. Phân loại cho vay là việc sắp xếp các khoản cho vay theo từng nhóm dựa vào các tiêu thức phân loại khác nhau, việc phân loại cho vay cũng là cơ sở để thiết lập các quy trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dung. Theo muc dich tin dung “Theo tiêu thức này tín dụng ngân hàng có thể phân chia thành các loại như sau ~ Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp là loại cho vay ngắn hạn để bỗ sung vốn lưu động cho KH trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ. ~ Cho vay tiêu dùng cá nhân là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng.
như mua sắm các vật dụng đắt tiền. Hiện nay ngân hàng còn thực hiện các khoản. cho vay để trang trải các chỉ phí thông thường trong đời sống thông qua phát hành thể tín dụng, = Cho vay bắt động sản là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bất động sản như nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và địch vụ. ~ Cho vay nông nghiệp là loại cho vay dé trang trải các chi phí sản xuất như.
phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc và gia cầm, lao động, nhiên liệu. ~ Cho vay tài trợ xuất nhập khẩu là các hoạt động tài trợ của ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu đặc thủ về tài chính bằng ngoại tệ và uy tín trong kinh doanh của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong quá trình giao dịch ngoại thương. Theo thời hạn tin dung Căn cứ vào tiêu thức này, cho vay được chia làm ba loại như sau: ~ Cho vay ngắn hạn: Loại cho vay này có thời hạn đến 12 tháng và được sử dụng, để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chỉ tiêu ngắn hạn của cá nhân. Trong các NHTM, tín dụng ngắn hạn chiếm tỷ trọng cao nhất.
~ Cho vay trung hạn là loại cho vay có thời hạn từ trên 12 tháng đến 60 tháng. được sử dụng để đầu tư mua sắm tải sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị „ công nghệ, mở rộng sản xuất, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời hạn thu hồi vốn nhanh. Trong nông nghiệp, chủ yếu cho vay trung hạn để đầu tư vào các tượng như máy cày, máy bơm nước, xây dựng các vườn cây công nghiệp như cà phê, điều, máy bơm điện. ~ Cho vay dài hạn là loại cho vay có thời hạn trên 60 tháng , đây là loại tín dụng được cung ứng để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn.
Theo mức độ tin nhiệm đối với khách hang ~ Cho vay không đảm bảo là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba, việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân KH. Đồi với những KH tốt, trung thực trong kinh doanh, có khả năng tài chính mạnh, quản. trị có hiệu quả thì ngân hàng có thể cấp tín dụng dựa vào uy tín của KH mà không. cần nguồn trả nợ thứ hai bổ sung.
~ Cho vay có đảm bảo là loại cho vay được ngân hàng cung ứng phải có tài sản thế chấp, cằm có hoặc phải có sự bảo lãnh của bên thứ ba. Đối với các KH chưa có. uy tín cao, khi vay vốn đôi hỏi phải có đảm bảo, sự đảm bảo này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm nguồn thu nợ thứ hai bố sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn. Theo phương thức cho vay ~ Cho vay từng lần: thường áp dụng với KH có nhu cầu vay vốn từng lần, hoặc nhu cầu theo thời vụ, mỗi lần vay vốn KH và ngân hàng lập thủ tục và ký hợp đồng.
tín dụng, mỗi hợp đồng tín dụng có thể nhận nợ nhiều lần hoặc một lần phụ thuộc vào tiến độ, nhu cầu sử dụng vốn của KH nhưng ngày đến hạn của từng lần nhận nợ. đều cùng là ngày hết hạn của hợp đồng tín dụng. ~ Cho vay theo hạn mức tín dụng: phương thức cho vay này áp dụng đối với KH vay vốn ngắn hạn có nhu cầu vay vốn thường xuyên, sản xuất kinh doanh én định. Căn cứ vào phương án hay kế hoạch sản xuất kinh doanh trong kỳ, ngân hàng.
và KH cùng xác định một hạn mức tín dụng duy trì trong khoảng thời gian nhất định, thời hạn vay của từng lần nhận nợ có thể vượt quá thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng. ~ Cho vay theo dự án đầu tư: áp dụng cho KH vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, thương mại hoặc dịch vụ, thời hạn cho vay đối với phương thức cho vay này thường là trung dài hạn. ~ Cho vay thấu chỉ là hình thức cho vay cho phép KH sử dụng vượt quá số dư trong phạm vi hạn mức tín dụng đã thỏa thuận tong thời gian nhất định trên tài khoản vãng lại hay tải khoản thẻ của KH, kỹ thuật này giúp KH sử dụng vốn linh hoạt và tiện lợi, phương thức cho vay này thường áp dụng đối với KH có khả năng. tài chính lành mạnh và có uy tín.
Tín dụng trung dài hạn 1. Những vấn đề cơ bản về tín dụng trung dài hạn 1. Khái niệm Tin dung trung dài hạn là hoạt đông cho vay của NHTM nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư vào tài sản cố định, thực hiện các dự án phát triển sản xuất kinh doanh hoặc nhu cầu tiêu dùng cá nhân, phục vụ đời sống có thời hạn trên 12 tháng.202] Tùy theo từng quốc gia và từng thời kỳ mà có những quy định cụ thể về hoạt động tin dụng trung dai hạn. Tại Việt Nam, thời hạn cho vay được xác định phù hợp với thời gian thu hồi vốn của dự án đầu tư, khả năng trả nợ của KH và tính chất nguồn vốn cho vay của tổ chức tín dụng.
Các hình thức tín dụng trung dài hạn Cùng với sự phát triển của các nghiệp vụ ngân hàng hiện đại, hoạt động tín dụng ngân hàng ngày càng có nhiều biến đổi. dưới sự hướng dẫn thực hiện của. Ngân hàng Nhà Nước, nhiều hình thức tín dụng ngân hàng khác nhau đã được đưa vào áp dụng đề KH có nhiều sự lựa chọn sao cho phủ hợp và đem lại hiệu quả cao. nhất cho họ, mỗi hình thức tín dụng thích hợp với từng mục đích và nhu cầu khác nhau.
Các hình thức tín dụng trung dài hạn chủ yếu của NHTM gồm: = Cho vay theo du án đầu tư + Cho vay đồng tài trợ: là hình thức cấp tín dụng thông qua việc tài trợ vốn cho một dự án của từ hai tổ chức tín dụng trở lên, trong đó một tỗ chức tín dụng đứng ra làm đầu mối, phối hợp cùng các bên đồng tài trợ đẻ thực hiện đầu tư cho dự. án nhằm phân tán rủi ro của các tổ chức tin dụng. Hình thức vay vốn này được áp. dụng đối với các dự án đầu tư đòi hỏi khoản vốn lớn mà các ngân hàng riêng lẻ thì không thể đáp ứng hết được, các ngân hàng thương mại chỉ được phép đầu tư vốn với mức độ nhất định so với tổng nguồn vốn của mình và không được đầu tư quá nhiều vốn vào một KH hoặc nhóm KH có liên quan để đảm bảo an toàn vốn.
chí đối với nhiều dự án, ngân hàng hoàn toàn có thể đáp ứng toàn bộ vốn nhưng. ngân hàng không muốn đảm nhận hết vì rủi ro quá lớn.