Luận văn: Phát triển Nguồn Nhân Lực Giáo Dục Ninh Bình (2014)

Luận văn thạc sĩ về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành giáo dục Ninh Bình. Nghiên cứu chuyên sâu về chính trị và đào tạo.

Chuyên ngành

Kinh tế Chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

123
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO

1.1. Một số vấn đề chung về phát triển nguồn nhân lực

1.1.1. Khái niệm và phân loại nguồn nhân lực

1.1.2. Các khái niệm cơ bản

2. CHƯƠNG 2: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực Giáo dục - Đào tạo ở Ninh Bình từ năm 2000 đến nay

3. CHƯƠNG 3: Định hướng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực Giáo dục – Đào tạo ở tỉnh Ninh Bình đến năm 2020

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Phát Triển Nguồn Nhân Lực Giáo Dục Ninh Bình

Nguồn nhân lực (NNL) là yếu tố then chốt cho sự phát triển bền vững của mọi quốc gia và địa phương. Đặc biệt, phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục đào tạo có vai trò đặc biệt quan trọng, là nền tảng cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Tại Ninh Bình, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực giáo dục đang trở thành một yêu cầu cấp thiết, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục (CBQLGD) chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế. Cần có sự nghiên cứu cả lý luận và thực tiễn để tìm ra những giải pháp hữu hiệu phù hợp với điều kiện của tỉnh. Nguồn nhân lực được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất đạo đức của người lao động. Nguồn nhân lực giáo dục là bộ phận nòng cốt để bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Đầu tư vào phát triển đội ngũ nhà giáo là đầu tư cho tương lai. Chất lượng giáo dục phụ thuộc phần lớn vào trình độ, năng lực và tâm huyết của đội ngũ nhà giáo. Do đó, Ninh Bình cần có những giải pháp đồng bộ và hiệu quả để nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục. Theo luận văn của Phạm Thị Thanh Xuân (2014), phát triển nguồn nhân lực (PTNNL) trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo là nhu cầu cấp bách cho phát triển nguồn nhân lực của cả nước trong giai đoạn hiện nay, vì vậy đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, hội thảo khoa học, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, và các bài nghiên cứu về vấn đề này. Ninh Bình cần học hỏi kinh nghiệm từ các tỉnh thành khác để có thể xây dựng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giỏi về chuyên môn, vững về phẩm chất, đáp ứng yêu cầu của thời đại mới.

1.1. Khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao Ninh Bình

Nguồn nhân lực chất lượng cao (NNLCLC) trong lĩnh vực Giáo dục Ninh Bình là đội ngũ những người làm việc trong ngành giáo dục, có trình độ chuyên môn từ cao đẳng trở lên, phẩm chất đạo đức tốt, năng lực sư phạm giỏi và tâm huyết với nghề. Đây là lực lượng nòng cốt để nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực cho tỉnh nhà. Nguồn nhân lực có vai trò quyết định đối với sự phát triển bền vững. NNLCLC là bộ phận tiên phong trong việc ứng dụng tri thức hiện đại trong giảng dạy. Họ còn là những người đi đầu trong việc sáng tạo tri thức mới. Việc xây dựng đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn cao, phẩm chất đạo đức tốt, tâm huyết với nghề là yếu tố then chốt để nâng cao chất lượng giáo dục. Cần có những chính sách thu hút, đào tạo và đãi ngộ xứng đáng để giữ chân và phát triển đội ngũ này. Cán bộ quản lý có vai trò bố trí, tổ chức hoạt động của công nghệ và người lao động có hiệu quả nhất.

1.2. Tầm quan trọng của phát triển NNL chất lượng cao

Phát triển NNL chất lượng cao trong Giáo dục Ninh Bình có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Đội ngũ giáo viên giỏi sẽ tạo ra những thế hệ học sinh giỏi, có kiến thức, kỹ năng và phẩm chất tốt, đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động và đóng góp vào sự phát triển của tỉnh. Nâng cao chất lượng giáo dục là tiền đề để thu hút đầu tư, phát triển kinh tế và nâng cao đời sống của người dân. Ngược lại, chất lượng nguồn nhân lực thấp sẽ kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội, gây ra nhiều hệ lụy. Chất lượng đội ngũ quản lý ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy. Cần nhận thức rõ tầm quan trọng của việc phát triển NNL chất lượng cao trong lĩnh vực giáo dục và có những hành động thiết thực để thực hiện mục tiêu này. Để nâng cao chất lượng giáo viên thì cần nâng cao nhận thức của xã hội về vai trò của đội ngũ nhà giáo; đổi mới công tác đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo theo hướng chuẩn hóa và hiện đại hóa; đổi mới công tác bố trí, sử dụng đội ngũ nhà giáo.

II. Thách Thức Trong Phát Triển Nhân Lực Ngành Giáo Dục Ninh Bình

Mặc dù đã có những tiến bộ nhất định, việc phát triển nguồn nhân lực ngành giáo dục Ninh Bình vẫn còn đối mặt với nhiều thách thức. Chất lượng đội ngũ giáo viên chưa đồng đều, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa. Cơ sở vật chất còn thiếu thốn, chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục. Chính sách đãi ngộ chưa đủ hấp dẫn để thu hút và giữ chân người tài. Tình trạng thiếu giáo viên vẫn còn diễn ra ở một số môn học và cấp học. Ngoài ra, quá trình hội nhập quốc tế đặt ra những yêu cầu mới đối với đội ngũ giáo viên, đòi hỏi họ phải không ngừng học hỏi, nâng cao trình độ chuyên môn và ngoại ngữ. Áp lực công việc ngày càng lớn cũng là một thách thức đối với sức khỏe và tinh thần của giáo viên. Việc phát triển giáo dục - đào tạo đòi hỏi phải luôn đảm bảo về số lượng nguồn nhân lực trong mỗi giai đoạn phát triển nhất định của ngành Giáo dục. Số lượng nguồn nhân lực ấy phải đảm bảo được đủ, không thừa thiếu cả tổng thể và cục bộ. Số lượng đội ngũ giáo viên tăng nhanh, nhưng chất lượng đội ngũ lại chưa đáp ứng yêu cầu.

2.1. Chất lượng đội ngũ giáo viên chưa đồng đều Ninh Bình

Một trong những thách thức lớn nhất là sự chênh lệch về chất lượng đội ngũ giáo viên giữa các vùng miền, các cấp học và các môn học. Giáo viên ở vùng sâu, vùng xa thường có trình độ chuyên môn thấp hơn so với giáo viên ở thành thị. Giáo viên ở các môn học năng khiếu, ngoại ngữ còn thiếu so với giáo viên ở các môn văn hóa. Sự chênh lệch này ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục và cơ hội tiếp cận giáo dục của học sinh. Để khắc phục tình trạng này, cần có những giải pháp đồng bộ và hiệu quả để nâng cao trình độ chuyên môn cho giáo viên, đặc biệt là giáo viên ở vùng khó khăn.

2.2. Chính sách đãi ngộ chưa đủ hấp dẫn CBQL Giáo Dục

Chính sách đãi ngộ đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút và giữ chân người tài. Tuy nhiên, hiện nay, chính sách đãi ngộ cho giáo viên ở Ninh Bình chưa đủ hấp dẫn, đặc biệt là so với các ngành nghề khác. Lương và các khoản phụ cấp còn thấp, chưa đủ để đảm bảo cuộc sống ổn định cho giáo viên. Điều này khiến nhiều giáo viên giỏi bỏ nghề hoặc chuyển sang các công việc khác có thu nhập cao hơn. Cần có những chính sách đãi ngộ xứng đáng để tôn vinh nghề giáo và tạo động lực cho giáo viên cống hiến. Để có thể nhanh chóng xây dựng được nền kinh tế tri thức, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội thì đòi hỏi cần phải đầu tư hơn nữa cho giáo dục – đào tạo, đảm bảo giáo dục – đào tạo phát huy được sức mạnh vốn có, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

2.3. Thiếu hụt giáo viên cục bộ và chưa đồng bộ Ninh Bình

Tình trạng thiếu giáo viên vẫn còn diễn ra ở một số môn học và cấp học, đặc biệt là ở các môn năng khiếu, ngoại ngữ và tin học. Việc thiếu giáo viên ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy và học tập của học sinh. Để giải quyết tình trạng này, cần có kế hoạch đào tạo và tuyển dụng giáo viên hợp lý, đảm bảo đáp ứng nhu cầu của các trường học. Để đảm bảo đến năm 2020 có đủ giáo viên để thực hiện giáo dục toàn diện, dạy học các môn học tích hợp, dạy học phân hóa, dạy học 2 buổi/ngày ở phổ thông.

III. Cách Phát Triển Nguồn Nhân Lực Giáo Dục Chất Lượng Ninh Bình

Để giải quyết những thách thức và nâng cao chất lượng giáo dục, Ninh Bình cần có những giải pháp đồng bộ và hiệu quả để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực giáo dục. Các giải pháp này cần tập trung vào việc nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, phẩm chất đạo đức và kỹ năng mềm cho đội ngũ giáo viên. Bên cạnh đó, cần có những chính sách đãi ngộ xứng đáng để thu hút và giữ chân người tài, tạo động lực cho giáo viên cống hiến cho sự nghiệp giáo dục. Đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực ngành giáo dục cần nhiều lực lượng tham gia. Tuy nhiên, trong đó Nhà nước đóng vai trò chủ yếu, quyết định. Cần sử dụng chính sách đầu tư một cách thích hợp, có hiệu quả từ đó sẽ làm tăng cả về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực Giáo dục - Đào tạo ở nước ta.

3.1. Nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ giáo viên Ninh Bình

Việc nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên là yếu tố then chốt để nâng cao chất lượng giáo dục. Cần tổ chức các lớp bồi dưỡng thường xuyên, định kỳ cho giáo viên, tạo điều kiện cho họ được học tập, trao đổi kinh nghiệm với các chuyên gia, nhà giáo giỏi trong và ngoài nước. Đồng thời, cần khuyến khích giáo viên tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ của bản thân. Để làm được điều này, Sở Giáo dục - Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh đã liên tục mở các lớp bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ chuyên môn trình độ lý luận chính trị và cập nhận những tri thức mới của thế giới cho giáo viên và nhân viên trong ngành.

3.2. Tăng cường đạo đức nhà giáo kỹ năng mềm CBQL GD

Đạo đức nhà giáo và kỹ năng mềm đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách cho học sinh. Cần tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống cho giáo viên, giúp họ trở thành tấm gương sáng cho học sinh noi theo. Đồng thời, cần trang bị cho giáo viên những kỹ năng mềm cần thiết như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng tư duy sáng tạo. Lao động trong lĩnh vực Giáo dục - Đào tạo là quá trình tương tác giữa người dạy và người học bằng chính nhân cách của mình để hình thành và phát triển nhân cách người học.

3.3. Thu hút và giữ chân giáo viên giỏi ngành GD Ninh Bình

Để thu hút và giữ chân giáo viên giỏi, cần có những chính sách đãi ngộ xứng đáng, bao gồm lương, phụ cấp, nhà ở, điều kiện làm việc và cơ hội thăng tiến. Đồng thời, cần tạo môi trường làm việc thân thiện, cởi mở, tôn trọng và tạo điều kiện cho giáo viên phát huy tối đa năng lực của bản thân. Cần phải xây dựng một cơ cấu nhân lực hợp lý đến từng ngành nghề giảng dạy, đảm bảo không để tình trạng dạy thay, dạy trái ngành, như vậy mới có điều kiện cải thiện chất lượng giáo dục.

IV. Ứng Dụng Nghiên Cứu Về Nguồn Nhân Lực Giáo Dục Ninh Bình

Nghiên cứu khoa học đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục. Cần khuyến khích giáo viên tham gia nghiên cứu khoa học, áp dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn giảng dạy. Đồng thời, cần có cơ chế hỗ trợ, tạo điều kiện cho giáo viên thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học có tính ứng dụng cao. Cùng với việc nhận thức đúng vị trí, vai trò của Giáo dục - Đào tạo ở tất cả các bậc học, tác giả cũng đưa ra khẳng định vai trò quyết định của chất lượng đội ngũ giáo viên đối với chất lượng nhân lực xã hội, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên như: nâng cao mức sống và điều kiện làm việc cho giáo viên.

4.1. Khuyến khích giáo viên tham gia nghiên cứu khoa học

Cần tạo điều kiện cho giáo viên tham gia các hội thảo khoa học, các lớp tập huấn về phương pháp nghiên cứu khoa học. Đồng thời, cần có chính sách hỗ trợ kinh phí, thời gian cho giáo viên thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học. Muốn nâng cao chất lượng giáo viên thì cần nâng cao nhận thức của xã hội về vai trò của đội ngũ nhà giáo; đổi mới công tác đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo theo hướng chuẩn hóa và hiện đại hóa; đổi mới công tác bố trí, sử dụng đội ngũ nhà giáo.

4.2. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào giảng dạy thực tiễn

Cần có cơ chế đánh giá, nghiệm thu các đề tài nghiên cứu khoa học, đảm bảo tính ứng dụng cao của các kết quả nghiên cứu. Đồng thời, cần có kênh thông tin để phổ biến các kết quả nghiên cứu cho giáo viên, giúp họ áp dụng vào thực tiễn giảng dạy. Hiện nay, vai trò của nguồn nhân lực không chỉ là tạo ra máy móc, công nghệ mà còn là sử dụng hiệu quả những máy móc và công nghệ đó.

V. Kết Luận Tương Lai Nguồn Nhân Lực Giáo Dục Ninh Bình

Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực giáo dục là một nhiệm vụ quan trọng và cấp bách của Ninh Bình. Để thực hiện thành công nhiệm vụ này, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội và sự chung tay góp sức của toàn thể cộng đồng. Với sự quyết tâm và nỗ lực của tất cả mọi người, tin rằng Ninh Bình sẽ xây dựng được một đội ngũ giáo viên giỏi về chuyên môn, vững về phẩm chất, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Nguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục có vai trò quan trọng không chỉ với sự hình thành kỹ năng nghề nghiệp cho người học mà còn góp phần vào việc giáo dục ý thức, phẩm chất đạo đức cho người lao động. Hiện nay, các nước đi sau có lợi thế về công nghệ, nhưng đó không phải là nhân tố quyết định sự thành công của quá trình công nghiệp hóa. Nhân tố quyết định ở đây vẫn là nguồn nhân lực. Bộ phận sử dụng công nghệ là con người.

5.1. Tầm nhìn phát triển NNL chất lượng cao đến năm 2030

Đến năm 2030, Ninh Bình phấn đấu trở thành một trung tâm giáo dục chất lượng cao của khu vực, với đội ngũ giáo viên giỏi về chuyên môn, vững về phẩm chất, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục. Để đạt được mục tiêu này, cần tiếp tục đầu tư cho giáo dục, nâng cao chất lượng đào tạo, tạo môi trường làm việc thuận lợi cho giáo viên và thu hút người tài vào ngành giáo dục.

5.2. Đề xuất chính sách giải pháp mang tính đột phá Ninh Bình

Cần có những chính sách đột phá để thu hút và giữ chân giáo viên giỏi, như tăng lương, phụ cấp, cải thiện điều kiện làm việc và cơ hội thăng tiến. Đồng thời, cần có những giải pháp sáng tạo để nâng cao chất lượng đào tạo, như áp dụng các phương pháp giảng dạy tiên tiến, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy và học tập. Muốn phát triển kinh tế muốn nhanh và bền vững phải dựa vào nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ đem lại sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, chuyển dần việc sản xuất dựa vào tài nguyên thiên nhiên sang sản xuất sản phẩm có hàm lượng chất xám cao hơn, thân thiện với môi trường hơn.

25/09/2025
Luận văn thạc sĩ phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực giáo dục đào tạo tỉnh ninh bình chính trị

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO 1. Một số vấn đề chung về phát triển nguồn nhân lực 1. Khái niệm và phân loại nguồn nhân lực 1. Các khái niệm cơ bản * Nhân lực: Theo từ điển Tiếng Việt, nhân lực là sức của con người: bao gồm sức lực cơ bắp (thể lực), trình độ tri thức được vận dụng vào quá trình lao động của mỗi cá nhân (trí lực), những ham muốn, hoài bão của bản thân người lao động hướng tới một mục đích xác định (tâm lực) [69].

Nhân lực với ý nghĩa đầy đủ của nó bao gồm ba yếu tố: thể lực, trí lực và tâm lực; ba yếu tố đó có quan hệ biện chứng với nhau, trong đó, trí lực giữ vai trò quyết định, nhưng thể lực và tâm lực cũng đóng vai trò quan trọng như điều kiện cần thiết không thể thiếu đối với sự phát triển của nguồn nhân lực. * Nguồn nhân lực: Khái niệm nguồn nhân lực (human resources), vốn con người (human capital) xuất hiện ở Hoa Kỳ vào những năm cuối thập niên 60 của thế kỷ XX bởi nhà kinh tế học người Mỹ - Theodor schoultz và sau đó được thịnh hành trên thế giới. Khái niệm nguồn nhân lực có mặt trong hầu hết các lý thuyết kinh tế học, được coi là một thành tố cơ bản của nền sản xuất xã hội. Cùng với sự phát triển của xã hội, khái niệm nguồn nhân lực cũng dần được bổ sung và hoàn thiện hơn.

Theo thuật ngữ Pháp (1977-1985, nguồn nhân lực bao gồm những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động và mong muốn có việc làm (những người có khả năng lao động nhưng không mong muốn có việc làm thì không được tính vào nguồn nhân lực). 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo Begg, Fischer và Dornbusch - các nhà kinh tế học người Anh, trong cuốn sách Kinh tế do Begg làm chủ biên, xuất bản năm 2008 có nêu rõ: khác với nguồn lực vật chất khác, nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích lũy được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai [83]. Theo khái niệm này, thì nguồn nhân lực là kết quả đầu tư trong quá khứ với mục đích tạo ra thu nhập trong tương lai, cũng giống như nguồn lực vật chất. Điểm khác với nguồn lực vật chất khác là: nguồn nhân lực là con người lao động có nhân cách (có tri thức, kỹ năng nghề nghiệp, hoạt động xã hội, có các phẩm chất tâm lý như động cơ, thái độ ứng xử với các tình huống trong cuộc sống) có khả năng tích lũy kinh nghiệm, nghề nghiệp và vốn sống.

Theo tổ chức lao động quốc tế: Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động. Khái niệm này dù được bổ sung so với khái niệm của Thuật ngữ Pháp, nhưng chưa chỉ rõ những yếu tố cấu thành nên nguồn nhân lực. Liên hợp quốc cho rằng nguồn nhân lực con người là tất cả những kiến thức, kỹ năng, năng lực con người có quan hệ tới sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước [50]. Nguồn nhân lực là tổng hòa trong thể thống nhất hữu cơ năng lực xã hội của con người (thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xã hội của con người.

Tính thống nhất đó được thể hiện ở quá trình biến nguồn lực con người thành nguồn vốn con người. Khái niệm này nhấn mạnh đến vai trò quyết định của con người đến sự phát triển của xã hội. Ở Việt Nam, khái niệm nguồn nhân lực được sử dụng rộng rãi từ sau công cuộc đổi mới đất nước năm 1986. Giáo sư viện sĩ Phạm Minh Hạc đưa khái niệm: nguồn nhân lực được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất đạo đức 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của người lao động.

Nó là tổng thể nguồn nhân lực hiện có thực tế và tiềm năng, được chuẩn bị sẵn sàng để tham gia phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia hay của một địa phương nào đó [27], tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung) bằng con đường đáp ứng được yêu cầu chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Theo Tổng cục Thống kê thì nguồn nhân lực bao gồm những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động (có tính thêm cả trẻ em và người lao động cao tuổi). Cách định nghĩa này giúp cho việc nghiên cứu sự đóng góp và nhu cầu của các đối tượng xã hội trong phát triển kinh tế - xã hội được dễ dàng hơn. Nhìn chung, có rất nhiều cách định nghĩa nguồn nhân lực, tùy thuộc vào cách tiếp cận nghiên cứu của từng lĩnh vực, của từng nhà kinh tế.

Tuy nhiên những quan niệm này đều thống nhất nội dung cơ bản: nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội. Có thể chia khái niệm nguồn nhân lực theo hai cách hiểu sau đây: - Theo nghĩa rộng: nguồn nhân lực là tổng thể tiềm năng lao động của con người của một quốc gia, hoặc vùng lãnh thổ: bao gồm cả số lượng và chất lượng. - Theo nghĩa hẹp: nguồn nhân lực là nguồn lao động, bao gồm tổng số người đang làm việc, lao động dự phòng; tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực, tâm lực của họ được huy động vào quá trình lao động. Trong luận văn này, khái niệm nguồn nhân lực được sử dụng theo quan niệm: “là tổng thể số lượng và chất lượng con người với các tiêu chí về thể lực, trí lực và tâm lực tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bộ xã hội.” Theo đó, khi nói đến nguồn nhân lực thì không đơn giản nói đến số lượng mà còn bao gồm chất lượng và cơ cấu của bộ phận nhân lực ấy.

Số lượng nguồn nhân lực được thể hiện qua các tiêu chí về quy mô và tốc độ phát triển của nguồn nhân lực. Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện bằng các chỉ tiêu về tình trạng phát triển thể lực, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn tay nghề, tác phong nghề nghiệp; và cơ cấu nguồn nhân lực được thể hiện qua các tiêu chí về tuổi tác, giới tính, thiên hướng trong lĩnh vực nghề, trình độ văn hóa và chuyên môn kỹ thuật… Quan tâm đến nguồn nhân lực cả ba mặt số lượng, chất lượng và cơ cấu cũng chính là quan tâm đến việc phát triển nguồn nhân lực. * Phát triển nguồn nhân lực: Phát triển nguồn nhân lực là quá trình làm tăng số lượng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm tạo ra quy mô và cơ cấu ngày càng phù hợp với nhu cầu về nhân lực phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội. Nhưng hiện nay, vấn đề nổi cộm giữa của mọi quốc gia là chất lượng dân số.

Vì vậy phát triển nguồn nhân lực những năm gần đây chủ yếu nhằm vào chất lượng nguồn nhân lực, dẫn tới hướng quan tâm hiện nay là quá trình nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực. Có nhiều quan niệm khác nhau về phát triển nguồn nhân lực ở cả cấp độ vĩ mô và vi mô. Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) và một số nhà kinh tế học sử dụng khái niệm phát triển nguồn nhân lực theo nghĩa hẹp: đó là sự phát triển kỹ năng lao động và sự đáp ứng với yêu cầu của việc làm [61]. Tổ chức lao động quốc tế (ILO) lại cho rằng: phát triển nguồn nhân lực không chỉ là sự lành nghề của dân cư hoặc bao gồm cả vấn đề đào tạo nói chung mà còn là phát triển năng lực đó của con người để tiến tới có được việc làm hiệu quả cũng như thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân [61].

13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Liên hợp quốc sử dụng khái niệm phát triển nguồn nhân lực theo nghĩa rộng hơn bao gồm giáo dục, đào tạo nghề nghiệp và sử dụng tiềm năng con người, nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống. Quan niệm này đã nhấn mạnh khía cạnh xã hội của vấn đề: nguồn nhân lực vừa là một yếu tố của sản xuất, của tăng trưởng kinh tế và là mục tiêu của sự phát triển. Một số nhà kinh tế học khác lại cho rằng: phát triển nguồn nhân lực là quá trình nâng cao năng lực của con người về mọi mặt: thể lực, trí lực, tâm lực; đồng thời phân bổ, sử dụng, khai thác và phát huy hiệu quả nguồn nhân lực thông qua hệ thống phân công lao động và giải quyết việc làm để phát triển kinh tế xã hội. Phát triển nguồn nhân lực của một đất nước là quá trình tạo dựng lực lượng lao động năng động, có kỹ năng và sử dụng chúng có hiệu quả.

Nói một cách cụ thể hơn, phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động nhằm nâng cao và khuyến khích đóng góp tốt hơn kiến thức và thể lực của người lao động, đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu sản xuất; kiến thức được nâng lên nhờ quá trình đào tạo, tiếp thu và tích lũy kinh nghiệm, còn thể lực có được nhờ chế độ dinh dưỡng, rèn luyện thân thể và chăm sóc y tế. Tóm lại, phát triển nguồn nhân lực là tạo ra tiềm năng của con người thông qua đào tạo, bồi dưỡng, tự bồi dưỡng, đào tạo lại, chăm sóc sức khỏe về thể lực và tinh thần, khai thác tối đa tiềm năng đó trong các hoạt động lao động, thông qua việc tuyển, sử dụng, tạo điều kiện về môi trường làm việc(phương tiện lao động có hiệu quả và các chính sách hợp lý) môi trường văn hóa – xã hội kích thích động cơ, thái độ làm việc của con người để họ mang hết sức mình hoàn thành các nhiệm vụ được giao. Phân loại nguồn nhân lực Tùy theo cách tiếp cận, người ta phân loại nguồn nhân lực theo những cách khác nhau. Dưới đây là những cách phân loại phổ biến: * Phân loại theo trình độ 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ