Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch sáng tạo Chương 2: Điều kiện và thực trạng phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch sáng tạo ở Việt Nam 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH SÁNG TẠO 1. 1 hái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu 1.1 Sáng tạo Ngày nay, sáng tạo thường được coi là một nguồn lực chính trong nền kinh tế tri thức, dẫn tới những sáng tạo và thay đổi về công nghệ, đồng thời đem lại lợi thế cạnh tranh về kinh doanh và các nền kinh tế quốc gia. Nền tảng cơ bản của du lịch sáng tạo chính là sự sáng tạo. Sáng tạo là một đặc tính quan trọng của trí tuệ loài người.
Sáng tạo là một nhu cầu nội tại của con người. Ở các mức độ khác nhau, những người có tri thức bình thường đều hướng tới và tạo ra những giá trị mới, hoặc vật chất, hoặc phi vật chất. Vậy sáng tạo là gì? Cho đến nay chưa có một định nghĩa nào làm hài lòng tất cả các nhà nghiên cứu về vấn đề này. Nguyên nhân của hiện tượng này chính là sự lan tỏa mạnh mẽ của tính sánh tạo trong mọi lĩnh vực của đời sống như khoa học, văn hóa, kinh tế, kỹ thuật…Tuy nhiên các nhà khoa học đều đồng tình khi cho rằng sáng tạo phải là một hoạt động tạo ra một sản phẩm mới, có giá trị vật chất hay tinh thần mới.
Nhiều nhà nghiên cứu còn khẳng định thêm là các sản phẩm đó phải là các sản phẩm có giá trị. Mommaas1 cho rằng trong gia đoạn hiện nay, sáng tạo có sự phát triển vượt bậc do chịu ảnh hưởng sâu sắc của quá trình toàn cầu hóa (Mommaas, 2009 i). Toàn cầu hóa làm cho mọi người dễ dàng tiếp cận với các tri thức khác nhau, nhu cầu sở thích khác nhau, trên cơ sở sự khác biệt có thể khám phá ra sự giao thoa của các luồng tư tưởng đó. Ví dụ, nhận biết thấy trong hoàn cảnh giao thông hiện nay ở Việt Nam, di chuyển bằng xe máy là phương tiện phù hợp nhất, các hãng xe Nhật Bản luôn chủ động tìm hiểu nhu cầu, sở thích của người tiêu dùng để từ đó sáng tạo ra chiếc xe ngày càng phù hợp hơn, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.
Chiếc xe được tạo ra có đặc tính là nhỏ (phù hợp với thể trạng người Việt Nam), 1 Giáo sư Khoa Nghiên cứu Giải trí, trường Đại học Tilburg, Hà Lan 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tốn ít xăng (phù hợp với khả năng tài chính của người tiêu dùng), đẹp mắt về màu sắc và kiểu dáng (phù hợp với thị hiếu), tiện dụng như chứa được nhiều đồ vật, từ mũ bảo hiểm đến máy laptop (phù hợp với công năng sử dụng mà người chủ xe muốn có). Đây chính là lí do xe máy Nhật luôn được khách hàng Việt nam ưa chuộng. Sáng tạo là một khái niệm tương đối mới và tùy thuộc vào từng ngôn ngữ, từng ngành nghề khác nhau mà nó được hiểu khác nhau nhưng đều có điểm chung là một hoạt động của con người nhằm tạo ra bất k cái gì có đồng thời tính mới và tính ích lợi. Theo cách hiểu này thì từ "hoạt động" được dùng với nghĩa rất rộng, chứ không phải theo nghĩa hẹp - "hoạt động của riêng con người".
Đó chính là hoạt động tạo ra sự phát triển của bất k đối tượng nào và sự phát triển là thuộc tính của vật chất (hiểu theo nghĩa triết học). Còn cụm từ "bất k cái gì" cho thấy kết quả (thành phẩm) sáng tạo cũng như chính hoạt động sáng tạo có thể có ở bất k lĩnh vực nào của thế giới vật chất và thế giới tinh thần, miễn là "cái gì đó" có đồng thời tính mới và tính ích lợi. Nếu "cái gì đó" chỉ có hoặc tính mới, hoặc tính ích lợi thì không được coi là sáng tạo. "Tính mới" là bất k sự khác biệt nào của đối tượng cho trước so với đối tượng tiền thân của nó (đối tượng cùng loại ra đời trước đó xét về mặt thời gian).
Trong trường hợp này, chúng ta nói rằng đối tượng cho trước có tính mới. Để có được sự sáng tạo, tính mới phải đem lại lợi ích (tạo ra giá trị thặng dư), không phải mới để mà mới. "Tính ích lợi" do tính mới tạo ra có thể rất đa dạng như tăng năng suất, hiệu quả; tiết kiệm năng lượng, nguyên vật liệu; giảm giá thành; có thêm chức năng mới; sử dụng thuận tiện hơn; thân thiện hơn với môi trường; tạo thêm được các xúc cảm, thẩm mỹ tốt. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một định nghĩa nào về sáng tạo làm hài lòng tất cả các nhà nghiên cứu.
Nguyên nhân của hiện tượng này chính là sự lan tỏa mạnh mẽ của tính sánh tạo trong mọi lĩnh vực của đời sống như khoa học, văn hóa, kinh tế, kỹ thuật…Tuy nhiên các nhà khoa học đều đồng tình khi cho rằng sáng tạo phải là một hoạt động tạo ra một sản phẩm mới, có giá trị vật chất hay tinh thần mới. Nhiều nhà nghiên cứu còn khẳng định thêm là các sản phẩm đó phải là các sản phẩm có giá trị. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Sáng tạo là nhân tố căn bản tạo nên động lực cho sự phát triển các mặt kinh tế, văn hóa, khoa học, kỹ thuật của xã hội. Nhà sáng chế, người sáng tạo là những danh từ tồn tại trong rất nhiều ngôn ngữ trên thế giới.
Nhà kinh tế kiêm xã hội học Hoa K Richard Florida2 (2002)ii đề xuất một khái niệm mới, khái niệm giai cấp sáng tạo. Đó là tập hợp những nhà sáng tạo. Theo khảo sát của ông, ở Hoa K có khoảng 30% tổng lao động là những người thuộc giai cấp sáng tạo. Thành phố sáng tạo là thuật ngữ do nhà nghiên cứu đô thị học người Anh Charles Landry3 đưa ra năm 1980, song ngay sau đó đã được UNESCO lập ra mạng lưới các thành phố sáng tạo.
Hiện nay trên toàn thế giới có 34 thành phố sáng tạo thuộc 7 ngành sáng tạo. Trong kinh doanh, sáng tạo một trong những nhân tố cơ bản tạo nên vị thế cạnh tranh của ngành, của doanh nghiệp. Mặc dù ngành nào cũng cần có sáng tạo, song tùy từng tính chất nghề nghiệp, mức độ yêu cầu tính sáng tạo không thể hiện đồng nhất. Một số nhà nghiên cứu gọi các ngành hay các nghề có mức độ yêu cầu nhiều tính sáng tạo là ngành hay nghề sáng tạo4.
Đó là những ngành/nghề có sản phẩm được tạo ra chủ yếu dựa trên kiến thức hay kỹ năng. Có nhiều ý kiến xung quanh việc liệt kê các ngành nghề được coi là ngành nghề sáng tạo. Howkins 5 đưa vào danh sách các ngành nghề được coi là sáng tạo gồm: quảng cáo, kiến trúc, nghệ thuật, thủ công, thiết kế, thời trang, phim ảnh, âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn, xuất bản, nghiên cứu triển khai, phần mềm, đồ chơi và trò chơi, phát thanh, truyền hình (Howkins 2001). Bộ Văn hóa, Truyền thông và Thể thao Anh quốc cũng đưa ra một danh sách các ngành nghề sáng tạo.
Đó là quảng cáo, kiến trúc, buôn bán sản phẩm nghệ thuật và đồ cổ, hàng thủ công, thiết kế truyền thông, thiết kế thời 2 Giáo sư ngành Kinh doanh và sáng tạo, Viện Thịnh vượng Martin, Đại học Toronto, Canada. The origin and future of the creative city. Commedia, 1980 4 Tiếng Anh là creative industry 5 John Howkins là tác giả " Nền kinh tế sáng tạo " “Hệ sinh thái sáng tạo” và nhiều công trình về sáng tạo khác. Ông làm việc ở hơn 30 quốc gia trên thế giới.
Ông giữa nhiều chức vụ khác trong trong các tổ chức quốc tế và quốc gia liên quan đến sáng tạo. Ông là giáo sư thỉnh giảng ở Đại học City, London, Anh, và tại trường Sáng tạo Thượng Hải, Trung Quốc. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trang, phim, videao chụp ảnh, phần mềm máy tính, game máy tính, xuất bản điện tử, nghệ thuật diễn xướng, xuất bản, tivi, phát thanh… Thấy được vai trò to lớn của sự sáng tạo nên nước Anh đã cho thành lập Bộ Văn hóa, Truyền thông và các Nghề Sáng tạo, Malaysia lập Bộ Du lịch và Kinh tế Sáng tạo. Như vậy, sáng tạo là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của chúng ta, không phải chỉ có những ngƣời làm nghệ thuật mới phải thƣờng xuyên sáng tạo mà những ngƣời ở những ngành nghề khác nhau cũng va chạm với nó trong cuộc sống hằng ngày.2 Du lịch sáng tạo Theo một số tài liệu, thuật ngữ sáng tạo đã được đưa vào 1976, Ram Kohli, người Ấn Độ đã lập ra hãng Lữ hành Sáng tạo Theo Greg Richards (2005), thực tiễn ra đời một loại hình du lịch văn hóa mới mà sau này có tên là du lịch sáng tạo được ghi nhận vào những năm 90 của thế kỉ trước khi mà các nhà nghiên cứu và nhà quản lý tìm kiếm giải pháp tăng cường việc bán các sản phẩm thủ công truyền thống cho khách du lịch.
Về phía khách du lịch, xu hướng đi tìm những trải nghiệm độc đáo, trải nghiệm kỹ một lối sống, một kinh nghiệm v.v…bản địa ngày càng gia tăng và trở nên nghiêm túc hơn. Sau đó, du lịch sáng tạo đã được coi là một trong những loại hình du lịch mới của du lịch văn hóa. Du lịch sáng tạo đã trở thành một loại hình khó sao chép hơn các loại hình du lịch truyền thống trước đây vì nó là hàm số không chỉ của nhà cung cấp dịch vụ mà còn của kỹ năng, kinh nghiệm của chính du khách. Lúc đầu du lịch sáng tạo chủ yếu chỉ là loại hình du lịch có thể tạo cho du khách cơ hội trải nghiệm một cách chủ động vào các hoạt động sáng tạo của địa phương.
Trước thực tế đó, một số nhà nghiên cứu đã quan tâm nghiên cứu về loại hình này. Những vấn đề được nghiên cứu, tranh luận là khái niệm, nội dung, đặc điểm, các loại hình, các mô hình, các điều kiện phát triển … du lịch sáng tạo. Thuật ngữ du lịch sáng tạo lần đầu tiên được Pearce và Butler (1993) iii đưa ra năm 1993, song rất tiếc hai ông không đưa ra định nghĩa về nó. Sau này, vào năm 2000, Krispin Raymond, người New Zealand và Greg Richards, người Hà Lan, hai nhà khoa học 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.