mở đầu phổ biến trong Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con ngƣời năm 1948 và hai công ƣớc về các quyền dân sự, chính trị và các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa năm 1966 là “mọi ngƣời có quyền” hoặc “bất cứ ngƣời nào đều có quyền”… thì trẻ em đƣợc thừa nhận là chủ thể bình đẳng với ngƣời lớn trong việc hƣởng tất cả các quyền và tự do cơ bản đƣợc ghi nhận trong luật quốc tế về quyền con ngƣời. Tuy nhiên, do đặc trƣng của trẻ em là còn non nớt cả về thể chất và tinh thần, nên ngay trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948, Công ƣớc quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966, Công ƣớc quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966 và Công ƣớc quốc tế về quyền trẻ em, trẻ em đã đƣợc ghi nhận những quyền đặc thù, đó là quyền đƣợc chăm sóc, giáo dƣỡng và đƣợc bảo vệ đặc biệt. Nhƣ vậy, quyền trẻ em là những đặc quyền tự nhiên mà trẻ em đƣợc hƣởng, đƣợc làm, đƣợc tôn trọng và thực hiện nhằm bảo đảm sự sống còn, tham gia và phát triển toàn diện. Công ƣớc về quyền trẻ em là luật quốc tế về bảo vệ quyền trẻ em bao gồm 54 điều khoản đƣợc Liên hợp quốc thông qua năm 1989.
Công ƣớc đề ra các quyền cơ bản của con ngƣời mà trẻ em trên toàn thế giới đều đƣợc hƣởng. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bốn nhóm quyền trẻ em theo Công ƣớc quốc tế gồm: - Nhóm quyền đƣợc sống: nhằm đảm bảo quyền đƣợc sống và đáp ứng các nhu cầu cơ bản để tồn tại; - Nhóm quyền đƣợc bảo vệ: nhằm bảo vệ trẻ em khỏi mọi hình thức bị bỏ rơi và bị lạm dụng và bóc lột hay phân biệt đối xử; - Nhóm quyền đƣợc phát triển: nhằm đảm bảo nhu cầu cải thiện chất lƣợng cuộc sống để trẻ phát triển toàn diện cả về thể chất và tinh thần, gồm các quyền đƣợc học tập, nghỉ ngơi và giải trí, tham gia hoạt động văn hóa…; - Nhóm quyền đƣợc tham gia: là những quyền cho phép trẻ em tham dự vào những công việc ảnh hƣởng đến cuộc sống của chúng, nhƣ quyền đƣợc bày tỏ quan điểm riêng, quyền tiếp cận thông tin… 1. Lao động trẻ em 1. Khái niệm lao động trẻ em Cho tới nay, trên phạm vi quốc tế vẫn chƣa có một định nghĩa thống nhất về lao động trẻ em.
Không phải mọi công việc hàng ngày mà trẻ em làm đều đƣợc coi là lao động trẻ em. Cần xác định rõ khái niệm lao động trẻ em và lấy đó là căn cứ để thực hiện ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em. Khác với khái niệm trẻ em, khái niệm về “lao động trẻ em” đòi hỏi ngoài góc độ độ tuổi còn phải tiếp cận ở góc độ tính chất công việc mà chủ thể phải làm. Về độ tuổi, sau khi Công ƣớc về quyền trẻ em và Công ƣớc số 182 về cấm và hành động ngay lập tức để xóa bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất của ILO đƣợc ban hành, trong đó đƣa ra định nghĩa trẻ em là những ngƣời dƣới 18 tuổi thì độ tuổi này đƣợc cộng đồng quốc tế coi là mốc chuẩn để xác định phạm vi chủ thể của khái niệm lao động trẻ em.
Về tính chất công việc, lao động trẻ em bao gồm những công việc có 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ảnh hƣởng tiêu cực đến sự phát triển toàn diện của trẻ em. Nói cách khác, thuật ngữ này đề cập đến những công việc và điều kiện làm việc không thể chấp nhận đƣợc đối với trẻ em. Trên thực tế, nhận thức về công việc có ảnh hƣởng tiêu cực đến sự phát triển toàn diện của trẻ em không đồng nhất do sự khác biệt về hoàn cảnh kinh tế, xã hội, quan niệm truyền thống, phong tục tập quán của mỗi quốc gia. Do đó, khó có thể đƣa ra một định nghĩa thống nhất về lao động trẻ em.
Theo Tổ chức Lao động quốc tế ILO, nhìn chung, những công việc có ảnh hƣởng tiêu cực tới sự phát triển toàn diện của trẻ là những công việc mà: gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, đạo đức và xã hội của trẻ; làm ảnh hƣởng đến việc học tập của trẻ (ví dụ, khiến cho trẻ không đƣợc đến trƣờng, buộc trẻ phải nghỉ học sớm, buộc trẻ phải cố gắng để vừa học vừa làm các công việc nặng nhọc hay mất nhiều thời gian). Có những công việc có thể chấp nhận đƣợc với trẻ em. Đó là những công việc không gây ảnh hƣởng đến sức khỏe và sự phát triển, không cản trở việc học của trẻ và mang ý nghĩa tích cực. Ví dụ nhƣ việc trẻ em giúp đỡ cha mẹ trong công việc nhà hoặc tham gia việc kinh doanh của gia đình ngoài giờ học.
Đây là những hoạt động góp phần vào sự phát triển của trẻ và cũng nâng cao phúc lợi của gia đình, cung cấp cho trẻ những kỹ năng và kinh nghiệm có ích cho việc hòa nhập xã hội khi trƣởng thành. Theo Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc UNICEF, lao động trẻ em là những công việc mà: (a) Làm việc ở độ tuổi quá sớm; (b) Phải làm việc quá nhiều giờ, ảnh hƣởng đến việc học tập của trẻ; (c) Lao động trong những điều kiện xấu; (d) Công việc hạ thấp danh dự nhân phẩm, lòng tự trọng của trẻ, có hại đến sự phát triển toàn diện của trẻ; 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Ở Việt Nam, pháp luật cũng chƣa có định nghĩa nào về lao động trẻ em, mặc dù thuật ngữ này đã đƣợc đề cập đến trong một số văn bản pháp luật. Ví dụ, Khoản 7 Điều 7 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004 quy định các điều nghiêm cấm, trong đó có hành vi lạm dụng lao động trẻ em.
Bộ luật Lao động 2012 có quy định khái niệm lao động chƣa thành niên và định nghĩa lao động chƣa thành niên là ngƣời lao động dƣới 18 tuổi và ít nhất phải đủ 15 tuổi, trừ một số ngành nghề và công việc do Bộ Lao động - thƣơng binh xã hội quy định có thể là ngƣời nhỏ hơn 15 tuổi. Cụ thể, theo Điều 164 Bộ luật Lao động: Ngƣời sử dụng lao động chỉ đƣợc sử dụng ngƣời từ đủ 13 tuổi đến dƣới 15 tuổi làm các công việc nhẹ theo danh mục do Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội quy định và không đƣợc sử dụng lao động là ngƣời dƣới 13 tuổi làm việc trừ một số công việc cụ thể do Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội quy định [29]. Điều 165 Bộ luật Lao động cũng quy định về các công việc và nơi làm việc cấm sử dụng lao động là ngƣời chƣa thành niên. Nhƣ vậy, khái niệm lao động chƣa thành niên trong pháp luật Việt Nam chƣa hoàn toàn đồng nhất với khái niệm lao động trẻ em trong pháp luật quốc tế.
Lao động chƣa thành niên chỉ bị coi là lao động trẻ em khi làm một số ngành nghề hoặc trong các điều kiện bị cấm theo quy định của pháp luật. Trong khi đó, lao động trẻ em luôn bị coi là bất hợp pháp, bao gồm: lao động dƣới độ tuổi luật cho phép; lao động quá nhiều giờ; không đƣợc trả công đầy đủ hoặc cản trở việc học hành của các em; lao động trong điều kiện xấu, công việc hạ thấp danh dự nhân phẩm hay có hại đến sự phát triển tâm lý, xã hội của trẻ. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Báo cáo “Điều tra quốc gia về lao động trẻ em 2012: Các kết quả chính” do Viện Khoa học Lao động và Xã hội thuộc Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội thực hiện với sự hỗ trợ kỹ thuật của ILO - IPEC/SIMPOC xuất bản lần đầu năm 2014 đƣa ra khái niệm lao động trẻ em nhƣ sau: (a) Trẻ em từ 5-11 tuổi: tham gia hoạt động kinh tế từ 1 giờ trở lên vào bất kỳ ngày nào trong tuần tham chiếu hoặc từ 5 giờ trở lên trong cả tuần tham chiếu. (b) Trẻ em từ 12-14 tuổi: tham gia hoạt động kinh tế trên 4 giờ vào bất kỳ ngày nào trong tuần tham chiếu hoặc trên 24 giờ trong cả tuần tham chiếu.
(c) Trẻ em từ 15-17 tuổi: tham gia hoạt động kinh tế trên 7 giờ vào bất kỳ ngày nào trong tuần tham chiếu hoặc trên 42 giờ trong cả tuần tham chiếu. Tuy nhiên, đây chỉ là khái niệm sử dụng nhằm phục vụ cho điều tra của Báo cáo này và mang tính chất tham khảo chứ chƣa phải định nghĩa chính thức. Từ các góc độ tiếp cận kể trên và từ các tiêu chuẩn quốc tế có liên quan của ILO, có thể định nghĩa nhƣ sau: Lao động trẻ em là thuật ngữ chỉ tình trạng trẻ em (những ngƣời dƣới 18 tuổi) phải làm những công việc có ảnh hƣởng tiêu cực tới sự phát triển toàn diện 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của trẻ nhƣ: gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, đạo đức và xã hội của trẻ; hoặc thời gian làm việc quá nhiều hay ở độ tuổi quá nhỏ, làm ảnh hƣởng đến thời gian học tập, vui chơi, giải trí của trẻ. Để hiểu rõ khái niệm lao động trẻ em, cần phân biệt với một số khái niệm khác có liên quan, cụ thể nhƣ sau: Trẻ em lao động (child labourer): “Thuật ngữ này đi liền với thuật ngữ lao động trẻ em (child labour), chỉ những trẻ em bị rơi vào vòng xoáy của lao động trẻ em, hay nói cách khác là nạn nhân của lao động trẻ em” [37].
Lao động chƣa thành niên (juvenile worker): Thuật ngữ này, nhƣ đã đề cập ở trên, “thường để chỉ những lao động dưới 18 tuổi và không hoàn toàn đồng nghĩa với lao động trẻ em. Lao động chưa thành niên có là lao động trẻ em hay không tùy thuộc vào tính chất công việc, đặc điểm môi trường làm việc, độ tuổi và thời gian làm việc của trẻ” [37]. Trẻ em làm việc (child work) là thuật ngữ “đề cập đến việc trẻ em tham gia làm các công việc khác nhau, thông thường là nhẹ nhàng, có thể chấp nhận được, được đưa ra nhằm mục đích phân biệt với khái niệm lao động trẻ em mà được coi là chỉ những công việc không thể chấp nhận được đối với trẻ em” [37].