Chương 1 TỔNG QUAN 1. Những nghiên cứu tổng quan về cây Đu đủ rừng 1. Thực vật học Phân loại thực vật học của cây Đu đủ rừng được xác định như sau: - Tên thường gọi: Nhật phiến, Thôi hoang, Thông thảo gai… - Tên khoa học: Trevesia palmata (Roxb. * Lớp:Ngọc Lan (Equisetopsida C.
* Phân lớp:Ngọc Lan (Magnoliidae Novák ex Takht). * Bộ:Nhân Sâm (Apiales Nakai) * Họ: Nhân Sâm (Araliaceae Juss). * Chi:Trevesia Vis. * Loài: Trevesia palmata (Roxb.
Mô tả cây Họ Nhân Sâm khá đa dạng về đặc điểm hình thái, ở Việt Nam ghi nhận được 18 chi thuộc họ này. Trong đó chi Trevesia Vis là những cây bụi hoặc cây gỗ nhỏ thường xanh hiếm khi phân nhánh, thân có gai (ở những cây già gai ở thân bị tiêu biến mất) Cây đu đủ rừng hay còn được gọi là Nhật phiến, có tên khoa học là Trevesia palmata (Roxb. Nó thuộc Cây nhỡ cao 7-8m hay hơn, thân ít phân nhánh, cành có gai, ruột xốp. Lá đơn, phiến lá phân thuỳ chân vịt, xẻ sâu như lá thầu dầu, có 5-9 thuỳ nhọn có răng, gân nổi ở hai mặt, mép lá có răng cưa thô; cuống lá dài và có gai.
Lá non phủ lông mềm, màu nâu nhạt, lá già nhẵn. Hoa mọc thành tán, tụ thành thuỳ ở nách.Tổng số tán từ 1- 25, mỗi tán mang 9- 65 hoa, lá bắc bền hoặc rụng 3 sớm,hoa lưỡng tính, đài có dạng sóng hoặc răng cưa nhỏ, cánh hoa 6 - 16 xếp van thườngthì hợp thể dạng mũ rụng sớm, nhị bằng số cánh hoa, Vòi nhụy hợp thành cột ngắn, mỗi ô có 1 noãn treo. Quả hình cầu - trứng. Hoa to khoảng 1cm, màu trắng.
Quả dài 13-18mm, có khía; hạt dẹp.Mùa hoa quả: tháng 5 - 10. Cây đu đủ rừng Quả đu đủ rừng Hoađu đủ rừng Hình 1. Hoa, quả và hạt cây Đu đủ rừng 1. Phân bố và sinh thái Đu đủ rừng được trồng đại trà ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới như Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam (Cây mọc ở rừng ẩm Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn tới Đắc Lắc).Cây mọc ở chỗ ẩm dọc theo các sông, suối, ở thung lũng các rừng phục hồi.
Chi Trevesia Viscó tổng số 6 loài, trong đó có 5 loài đã ghi trong sách thực vật Việt Nam, đó là: Trevesia palmata (Roxb.) Vis, Trevesia sphaerocarpa Grushv.Năm 2007, Phan Kế Lộc và cộng sự đã phát hiện thêm một loại mới thuộc chi Trevesia Vis ở Việt nam, đặt tên là Trevesiavietmamenis J, Wen & P. Loài này mọc hoang trong rừng, thường ở núi đá vôi cao 500 - 1200m, ở các 4 tỉnh Quảng Ninh, Ninh Bình, Quảng Trị, Lâm Đồng, Sơn La. Có hoa vào tháng 5, có quả vào tháng 10. Cây có biên độ sinh thái tương đối rộng, nhiệtđộ thích hợp cho cây sinhtrưởng từ 25-270C, hoặc cao hơn.
Cây sinh trưởng nhanh trong mùa mưa ẩm. Hoa thụ phấn nhờ côn trùng. Lá có thể thu hái quanh năm. Công dụng của cây cây đu đủ rừngtrong y học dân gian Hầu hết các bộ phận của đu đủ rừng đều có công dụng chữa bệnh.
Trong Y học cổ truyền thì người ta đã sử dụng các thành phần của cây đu đủ rừng để chữa một số bệnh như sau: -Lõi thân: Lõi thân có tác dụng lợi tiểu, lợi phù, lợi sữa, dùng để chữa phù thũng, đái dắt, tê thấp, làm thuốc hạ nhiệt, và cũng được xem như một vị thuốc bổ (20- 30 g lõi thân sắc riêng hoặc phối hợp với cây Mua đỏ). -Lá: Lá được dùng nấu nước xông chưa tê liệt bại người và giã đắp chữa gãy xương, đắp mụ nhọt [3]. Thành phần hóa học và tác dụng dược lý Cho đến nay những nghiên cứu về thành phần hóa học của các loài trong chi Trevesia, kể cả trong nước và nước ngoài vẫn còn rất hạn chế. Chỉ có hai công bố của Nunziatina De Tommasi và cộng sự (Italia) vềthành phần saponin của hai loài thuộc chi Trevesia, đó là T.
Năm 1997, từ phân đoạn n- BuOH của dịch chiết MeOH hoa và lá loài T. sundaica, Nunziatina De Tommasi và cộng sự đã phân lập được 6 saponin triterpenoid mới (1-6) cùng với 4 saponin triterpenoid đã biết [37]. 5 Năm 2000, cũng từ phân đoạn n-BuOH của dịch chiết EtOH lá loài T. palmata, nhóm nghiên cứu này đã phân lập được 8 saponin triterpenoid, trong đó có 6 chất mới (7-12) [38].
Phần lớn các saponin này là các bisdesmoside, chỉ có 3 saponin monodesmoside, nhưng tất cả đều có phần aglycon là acid oleanolic hoặc dẫn chất của acid này. 6 7 8 Năm 2014, Hasanur Rahman và cộng sự nghiên cứu tác dụng hạ đường huyết và giảm đau của dịch chiết methanol lá loài T. Kết quả cho thấy ở mức liều 100, 200 và 400 mg/kg thể trọng đã làm giảm đường huyết của động vật thực nghiệm 17,9, 28,1 và 47,4% so với đối chứng; Đối với tác dụng giảm đau, ở mức liều 50, 100, 200 và 400 mg/kg thể trọng đã làm giảm 17,9, 28,1 và 47,4% so với đối chứng [40]. Một nghiên cứu khác về tác dụng tan huyết khối và chống viêm khớp của dịch chiết methanol chiết xuất từ lá loài T.
palmata cũng được Mohammed Aktar Sayeed và cộng sự công bố. Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả này cho thấy dịch chiết n-hexane và ethyl acetate có tác dụng tốt trên in vitro của hoạt tính tan huyết khối trong khi đó dịch chiết methanol có tác dụng mạnh đối với hoạt tính kháng viêm [41]. Từ kết quả tổng quan các nghiên cứu trên, có thể nhận thấy thành phần hóa học chính của các loài thuộc chi Trevesia là các saponin có phần aglycon là acid oleanolic hoặc dẫn chất của acid này, đồng thời các nghiên cứu về hoạt tính sinh học đã phát hiện được nhiều hợp chất có tác dụng hạ đường huyết và kháng viêm mạnh. Chính vì vậy việc nghiên cứu thành phần hóa học loàiTrevesia palmata họ Nhân sâm (Araliaceae) ở Việt Nam có ý nghĩa khoa học và thực tiễn giúp tìm kiếm những hợp chất có hiệu quả trong chữa trị bệnh tiểu đường và có tác dụng kháng viêm có nguồn gốc thiên nhiên sẽ góp phần chữa trị cho bệnh nhân tiểu đường đồng thời sẽ giúp làm giảm các biến chứng nguy hiểm của bệnh này.
Các phương pháp chiết mẫu thực vật Sau khi tiến hành thu hái và làm khô mẫu, tuỳ thuộc vào đối tượng chất có trong mẫu khác nhau (chất phân cực, chất không phân cực, chất có độ phân cực trung bình…) mà ta chọn dung môi và hệ dung môi khác nhau. Chọn dung môi chiết Thường thì các chất chuyển hoá thứ cấp trong cây có độ phân cực khác nhau. Tuy nhiên những thành phần tan trong nước ít khi được quan tâm. Dung môi dùng trong quá trình chiết cần phải được lựa chọn rất cẩn thận.
Điều kiện của dung môi là phải hoà tan được những chất chuyển hoá thứ cấp đang nghiên cứu, dễ dàng được loại bỏ, có tính trơ (không phản ứng với chất nghiên cứu), không dễ bốc cháy, không độc. Nếu dung môi có lẫn các tạp chất thì có thể ảnh hưởng đến hiệu quả và chất lượng của quá trình chiết. Vì vậy những dung môi này nên được chưng cất để thu được dạng sạch trước khi sử dụng. Thường có một số chất dẻo lẫn trong dung môi như các diankyl phtalat, tri-n-butyl-axetylcitrar và tributylphosphat.
Những chất này có thể lẫn với dung môi trong quá trình sản xuất hoặc trong khâu bảo quản như trong các thùng chứa hoặc các nút đậy bằng nhựa. Methanol và chlorofrom thường chứa dioctylphtalat [di-(2-etylhexyl)- phtalat hoặc bis-2-etylhexyl-phtalat]. Chất này sẽ làm sai lệch kết quả phân lập trong các quá trình nghiên cứu hoá thực vật, thể hiện hoạt tính trong thử nghiệm sinh học và có thể làm bẩn dịch chiết của cây. Chlrofrom, metylen clorit và methanol là những dung môi thường được lựa chọn trong quá trình chiết sơ bộ một phần của cây như: lá, thân, rễ, củ, quả, hoa… Những tạp chất của chlorofrom như CH 2Cl2, CH2ClBr có thể phản ứng với một vài hợp chất như các ancaloit tạo muối bậc 4 và những sản phẩm khác.
Tương tự như vậy, sự có mặt của lượng nhỏ axit clohiđric (HCl) cũng có thể gây ra sự phân huỷ, sự khử nước hay sự đồng phân hoá với các hợp chất khác. Chlorofrom có thể gây tổn thương cho gan và thận nên khi làm việc với chất này cần được thao tác khéo léo, cẩn thận ở nơi thoáng mát và phải đeo mặt nạ phòng độc. Metylen clorit ít độc hơn và dễ bay hơi hơn chlorofrom. 10 Methanol và ethanol 80% là những dung môi phân cực hơn các hiđrocacbon thế clo.
Người ta cho rằng các dung môi thuộc nhóm rượu sẽ thấm tốt hơn lên màng tế bào nên quá trình chiết với các dung môi này sẽ thu được lượng lớn các thành phần trong tế bào. Trái lại, khả năng phân cực của chlorofrom thấp hơn, nó có thể rửa giải các chất nằm ngoài tế bào. Các ancol hoà tan phần lớn các chất chuyển hoá phân cực cùng với các hợp chất phân cực trung bình và thấp. Vì vậy, khi chiết bằng ancol thì các chất này cũng bị hoà tan đồng thời.
Thông thường dung môi cồn trong nước có những đặc tính tốt nhất cho quá trình chiết sơ bộ. Tuy nhiên cũng có một vài sản phẩm mới được tạo thành khi dùng methanol trong suốt quá trình chiết. Thí dụ trechlonolide A thu được từ trechlonaetes aciniata được chuyển thành trechlonolide B bằng quá trình phân huỷ 1-hydroxytropacocain cũng xảy ra khi erythroxylum novogranatense được chiết trong methanol nóng. Người ta thường ít sử dụng nước để thu được dịch chiết thô từ cây mà thay vào đó là dùng dung dịch nước của methanol.
Dietyl ete hiếm khi được dùng cho các quá trình chiết thực vật vì nó rất dễ bay hơi, bốc cháy và rất độc, đồng thời nó có xu hướng tạo thành peroxit dễ nổ. Peroxit của dietyl ete dễ gây phản ứng oxi hoá với các hợp chất không có khả năng tạo cholesterol như các carotenoid. Tiếp đến là axeton cũng có thể tạo thành axetonit nếu 1,2-cis-diol có mặt trong môi trường axit. Quá trình chiết dưới điều kiện axit hoặc bazơ thường được dùng với quá trình phân tách đặc trưng, cũng có khi xử lí các dịch chiết bằng axit-bazơ có thể tạo thành những sản phẩm mong muốn.
Sự hiểu biết về những đặc tính của những chất chuyển hoá thứ cấp trong cây được chiết sẽ rất quan trọng để từ đó lựa chọn dung môi thích hợp cho quá trình chiết, tránh được sự phân huỷ chất bởi dung môi và quá trình tạo thành chất mong muốn. 11 Sau khi chiết, dung môi được cất ra bằng máy cất quay ở nhiệt độ không quá 30-400C, với một vài hoá chất chịu nhiệt có thể thực hiện ở nhiệt độ cao hơn. Quá trình chiết Hầu hết quá trình chiết đơn giản được phân loại như sau: - Chiết ngâm. - Chiết sử dụng một loại thiết bị là bình chiết Xoclet.