Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LỖI VÔ Ý TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm, bản chất, điều kiện và các dạng lỗi vô ý 1. Khái niệm và bản chất của lỗi vô ý Tội phạm là một thể thống nhất của hai mặt khách quan và chủ quan. Mặt chủ quan là hoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội bao gồm nhiều nội dung khác nhau, chúng có ý nghĩa về mặt hình sự, trong đó có nội dung trả lời cho câu hỏi: Lí trí và ý chí của người phạm tội đối với những biểu hiện ra bên ngoài của tội phạm như thế nào? Lỗi nãi chung, lỗi cố ý và lỗi vô ý nói riêng, nh×n d-íi gãc ®é triÕt häc cã mèi quan hÖ néi t¹i, t-¬ng t¸c víi nhau.
§©y lµ mèi quan hÖ gi÷a c¸i riªng vµ c¸i chung. Víi t- c¸ch lµ c¸i chung, ph¹m trï lỗi bao giê còng ®-îc ®Æt trong quan hÖ víi lỗi cố ý và lỗi vô ý. ChÝnh v× lý lÏ ®ã, muèn hiÓu ®-îc kh¸i niÖm lỗi cố ý và lỗi vô ý víi c¸c mÆt kh¸c nhau cña nã th× nhÊt thiÕt ph¶i nhËn thøc ®-îc kh¸i niÖm chung vÒ lỗi. Lỗi lµ mét ph¹m trï ph¸p lý - x· héi phøc t¹p, ®-îc nghiªn cøu trong nhiÒu lÜnh vùc khoa học kh¸c nhau nh- triÕt häc, thÇn häc, gi¸o dôc häc, ®¹o ®øc häc, t©m lý häc, téi ph¹m häc, và luật học trong đó đặc biệt là sự quan tâm, nghiên cứu của khoa häc luật hình sự.
Trong lÜnh vùc khoa häc luật hình sự, viÖc lµm s¸ng tá kh¸i niÖm lỗi lµ mét vÊn ®Ò hÕt søc quan träng, có ý nghĩa không dừng lại ở việc góp phần nhận thức bản chất của lỗi mà còn làm sáng tỏ các vấn đề có liên quan. Tuy vËy, trong khoa häc luật hình sự vÉn cßn tån t¹i nh÷ng quan ®iÓm kh¸c nhau: - Quan điểm thứ nhất: Theo Từ điển Luật học: "Lỗi được hiểu là thái độ tâm lý của một người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả nguy hiểm cho xã hội thể hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý" [4]. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Quan điểm thứ hai: Theo GS.TSKH Lê Cảm: Lỗi hình sự là mặt chủ quan của tội phạm và là một trong những điều kiện bắt buộc của trách nhiệm hình sự, đồng thời là thái độ tâm lý của người có năng lực và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm mà người đó thực hiện và hậu quả do hành vi ấy gây nên dưới hình thức cố ý hoặc vô ý [10]. - Quan điểm thứ ba: Theo GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa: "Lỗi là dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm phản ánh chủ thể có đủ điều kiện lựa chọn, thực hiện hành vi khác không gây thiệt hại cho xã hội khi quyết định thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội" [10].
Mặc dù còn tồn tại sự khác nhau nhất định về cách tiếp cận, tên gọi của vấn đề, nhưng về cơ bản các các nhà khoa học đều thống nhất cho rằng lỗi là một yếu tố thuộc mặt chủ quan của tội phạm, là sự kết hợp giữa yếu tố lý trí và ý chí, trong đó, lý trí thể hiện khả năng nhận thức hoặc không nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi, còn ý chí thể hiện năng lực điều khiển hành vi hoặc kìm chế việc thực hiện hành vi đó để thực hiện một xử sự khác không trái với lợi ích của xã hội. Đồng thời, lỗi trong luật hình sự chính là sự biểu hiện của mối quan hệ giữa cá nhân người phạm tội với xã hội mà nội dung của nó là sự phủ định chủ quan đòi hỏi của xã hội được thể hiện qua sự đòi hỏi cụ thể của luật hình sự. Để nhận thức đúng đắn quan niệm về lỗi trong luật hình sự, cần phải nghiên cứu, tìm hiểu đầy đủ các vấn đề thuộc nội hàm của lỗi, hay nói cách khác là các dấu hiệu của lỗi. Lỗi có hai dấu hiệu cơ bản: dấu hiệu về lý trí và dấu hiệu về ý chí của con người.
- Yếu tố lý trí: Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng: "lý trí là khả năng nhận thức sự vật bằng suy luận" [71]. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hành vi của con người được hiểu là toàn bộ xử sự biểu hiện ra bên ngoài của họ trong một hoàn cảnh cụ thể. Nó chịu sự chi phối của điều kiện sinh hoạt vật chất, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất - đó chính là hoàn cảnh khách quan. Nhưng đối với chính xử sự của mình, con người vẫn có tự do tương đối, thông qua hoạt động ý thức, họ có khả năng lựa chọn, quyết định và thực hiện xử sự phù hợp với những quy luật tự nhiên và xã hội theo những gì mà họ nhận thức được.
Tính tự do của hành vi là "con người khi hành động không phải chỉ nhắm mắt thụ động, để cho hoàn cảnh khách quan lôi kéo… mà còn có tự do tương đối…" [17]. - Yếu tố ý chí: là sự thể hiện năng lực điều khiển hành vi trên cơ sở nhận thức, người phạm tội mong muốn hoặc có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra hoặc cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được. Đây chính là khả năng tâm lý của con người có thể tự mình lựa chọn và thực hiện các xử sự trong những điều kiện xã hội nhất định. Nhưng đó không có nghĩa là tùy tiện, bất chấp quy luật mà phải là sự nhận thức và làm theo quy luật để thỏa mãn nhu cầu của mình.
Ngược lại, nếu con người lựa chọn, quyết định và thực hiện xử sự không phù hợp với quy luật, trái với lợi ích xã hội thì có nghĩa là họ đã tự tước bỏ sự tự do của mình và phải chịu trách nhiệm với cộng đồng, xã hội. Vì họ có khả năng nhận thức được ý nghĩa xã hội của hành vi, có khả năng điều khiển được hành vi theo quy luật của xã hội nhưng thực tế tự bản thân họ đã lựa chọn xử sự trái với đòi hỏi của xã hội, gây ra thiệt hại cho xã hội. Khi đó, họ bị coi là có lỗi đối với việc thực hiện hành vi. Trách nhiệm mà họ phải gánh chịu có thể là trách nhiệm về đạo đức hoặc là trách nhiệm pháp lý.
Nếu hành vi đó trái với lợi ích của xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ thì họ bị coi là có lỗi hình sự và buộc phải chịu TNHS. Như vậy, về mặt hình thức, lỗi bao gồm hai yếu tố cấu thành là lý trí và ý chí, một thể hiện khả năng nhận thức thực tại khách quan, một thể hiện năng lực điều khiển hành vi trên cơ sở của sự nhận thức là những yếu tố tâm 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lý cần thiết của mọi hành động có ý thức của con người. Nếu xử sự gây thiệt hại cho xã hội bị coi là có lỗi thì quá trình lý trí và ý chí phải có những đặc điểm nhất định phản ánh được rằng xử sự gây thiệt hại cho xã hội đã thực hiện là kết quả của sự tự lựa chọn, tự quyết định của chủ thể, trong khi chủ thể có đủ điều kiện lựa chọn và quyết định xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội. Từ những phân tích trên đây, dưới góc độ khoa học luật hình sự, có thể định nghĩa lỗi trong luật hình sự như sau: Lỗi là thái độ tâm lý của chủ thể (cá nhân) có năng lực trách nhiệm hình sự, thể hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm và hậu quả do hành vi đó gây ra trong khi họ có đủ điền kiện để lựa chọn, thực hiện hành vi khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội.
Căn cứ vào đặc điểm cấu trúc tâm lý các yếu tố lý trí và ý chí của con người, khoa học luật hình sự đã chia lỗi thành hai loại: lỗi cố ý và lỗi vô ý. Lỗi cố ý được hiểu là thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi và khả năng gây ra hậu quả của hành vi, họ nhận thức rõ hành vi của mình có tính chất nguy hiểm cho xã hội; thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hoặc có ý thức để mặc cho hậu quả đó xảy ra. Còn đối với lỗi vô ý để có thể đưa ra một nhận định, một cách hiểu đúng về nó, cần phải làm rõ các yếu tố cấu thành nên lỗi vô ý: - Yếu tố ý chí: là khi chủ thể không nhận thức được hoặc nhận thức không đầy đủ đặc điểm thể hiện tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi khi quyết định thực hiện hành vi, họ không thấy được khả năng xảy ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Các trường hợp chủ thể không nhận thức được hoặc nhận thức không đầy đủ là đặc điểm phản ánh trong CTTP, như: + Chủ thể không nhận thức được tính chất thực tế của hành vi và khả năng gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Chủ thể tuy nhận thức được tính chất thực tế của hành vi nhưng hoàn toàn không nhận thức được khả năng gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành đó. + Chủ thể nhận thức được tính chất thực tế của hành vi, nhận thức được khả năng hậu quả xảy ra nhưng sau khi cân nhắc đã loại trừ khả năng đó khi lựa chọn thực hiện hành vi [28]. Việc có nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội hay không còn phụ thuộc vào điều kiện khách quan và điều kiện chủ quan. Điều kiện khách quan chính là hoàn cảnh cụ thể mà người thực hiện hành vi có thể tự do lựa chọn xử sự của mình, tự do này là cả về thể xác và tinh thần.
Điều kiện chủ quan chính là năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, độ tuổi của chủ thể. Dựa trên sự phát triển về tâm lý và chính sách hình sự mà mỗi quốc gia sẽ quy định độ tuổi này khác nhau. Khi đạt độ tuổi nhất định, con người sẽ có năng lực nhận thức và điều khiển hành vi. Và họ sẽ phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình.
Ở Việt Nam, chủ thể khi đủ 14 tuổi là bắt đầu có năng lực nhận thức, điều khiển hành vi và 16 tuổi là tuổi có năng lực nhận thức đầy đủ.