Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý thuyết về thị trường chứng khoán, chỉ số giá cổ phiếu VN-Index và các nhân tố ảnh hưởng tới chỉ số giá cổ phiếu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và một số giải pháp nhằm gia tăng tác động của các nhân tố đến chỉ số giá cổ phiếu VN-Index và phát triển ổn định thị trường chứng khoán. 2 c CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN, GIÁ CHỨNG KHOÁN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI CHỈ SỐ GIÁ CỔ PHIẾU 2. Tổng quan về thị trường chứng khoán 2.
Khái niệm và bản chất của thị trường chứng khoán Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về thị trường chứng khoán, tuy nhiên nếu dựa vào vị trí và đặc điểm hoạt động của thị trường trong nền kinh tế thì ta có thể hiểu về thị trường chứng khoán theo định nghĩa mà PGS. Bùi Kim Yến và TS. Thân Thị Thu Thủy (2008) đã đưa ra như sau: “Thị trường chứng khoán là một bộ phận của thị trường vốn dài hạn, thực hiện cơ chế chuyển vốn trực tiếp từ nhà đầu tư sang nhà phát hành, qua đó thực hiện chức năng của thị trường tài chính là cung ứng nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế”[1,54]. Có thể diễn giải định nghĩa về thị trường như sau: Khi một doanh nghiệp muốn huy động vốn thì ngoài việc đi vay từ ngân hàng thì họ còn có một lựa chọn khác đó là phát hành chứng khoán, bên cạnh những doanh nghiệp đang cần vốn sẽ có những cá nhân, tổ chức có dòng tiền nhàn rỗi muốn đầu tư để sinh lời, người cần vốn và người có khả năng cung cấp vốn sẽ giải quyết nhu cầu của mình thông qua việc mua bán chứng khoán các loại (cơ chế chuyển vốn trực tiếp), tùy thuộc vào nhu cầu vốn trung hay dài hạn của mình mà doanh nghiệp sẽ phát hành loại chứng khoán tương ứng.
Và nơi để thực hiện tất cả những hoạt động này là thị trường chứng khoán. Hàng hóa của thị trường chứng khoán Hàng hóa của thị trường chứng khoán là chứng khoán. Tại Việt Nam khi nói về chứng khoán thì người ta thường hiểu đó là cổ phiếu và thị trường chứng khoán là thị trường giao dịch cổ phiếu, cách hiểu này cũng không sai bởi cổ phiếu là loại chứng khoán chiếm tỷ trọng lớn, thường xuyên, chủ yếu được giao dịch trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Tuy vậy, ta cần phải hiểu một cách chính xác rằng chứng khoán là một tên gọi chung để chỉ các tài sản tài chính sau: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư và chứng khoán phái sinh.
Từ chính tính chất của các tài sản tài chính mà chứng khoán có nhiều cách phân loại: Nếu căn cứ vào tính chất của nguồn vốn huy động được từ phát hành chứng khoán thì ta có thể phân loại chứng khoán thành: chứng khoán nợ (thường là trái phiếu) và chứng khoán vốn (cổ phiếu các loại). Cổ phiếu mặc dù cũng giống như trái phiếu dùng để 3 c huy động vốn nhưng nguồn vốn này không có tính chất hoàn trả khi đáo hạn cho trái chủ như trái phiếu, bên cạnh đó thực chất mối quan hệ giữa trái chủ và nhà phát hành trái phiếu là quan hệ chủ nợ (trái chủ)-người đi vay (doanh nghiệp hoặc chính phủ) còn quan hệ giữa giữa cổ đông và người phát hành cổ phiếu (thường là doanh nghiệp) là quan hệ đồng sở hữu. Vì thế nên cổ phiếu không được xét vào chứng khoán nợ. Mặc dù chứng khoán có tính thanh khoản cao nhưng vẫn có những loại chứng khoán gây khó khăn cho nhà đầu tư muốn giao dịch.
Căn cứ vào tính chất này ta chia thành: chứng khoán vô danh (rất dễ mua bán chuyển đổi ) và chứng khoán ký danh (việc giao dịch chứng khoán này rất khó khăn). Khi đầu tư vào chứng khoán nhà đầu tư thường quan tâm tới lợi tức, vì thế nếu căn cứ vào tính ổn định của khoản lợi tức mà nhà đầu tư được hưởng thì chứng khoán có thể được chia thành: chứng khoán có lợi tức ổn định (thường là trái phiếu và cổ phiếu ưu đãi vì doanh nghiệp kinh doanh lời hay lỗ đều phải trả lợi tức cho trái chủ và nguời nắm giữ cổ phiếu ưu đãi. Cùng với đó là trái chủ và cổ đông có cổ phiếu ưu đãi sẽ được ưu tiên thanh toán khi doanh nghiệp phá sản hoặc giải thể) và không ổn định (ví dụ như cổ phiếu thường vì lợi tức mà người nắm giữ cổ phiếu nhận được phụ thuộc hoàn toàn vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, nếu doanh nghiệp kinh doanh có lời thì sẽ được chia lợi tức và ngược lại ). Các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán Theo định nghĩa, ta có thể hiểu trên thị trường chứng khoán tồn tại hai chủ thể là người cần vốn và người có khả năng cung cấp vốn.
Tuy nhiên theo thực tế thị trường chứng khoán Việt Nam và thuật ngữ kinh tế thì có 4 chủ thể tham gia gồm: + Nhà phát hành chứng khoán + Nhà đầu tư chứng khoán + Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán + Các tổ chức có liên quan đến thị trường chứng khoán. Nhà phát hành chứng khoán ở đây có thể là: Chính phủ, doanh nghiệp hoặc các tổ chức tài chính. Các loại sản phẩm thông thường của từng nhà phát hành là: Chính phủ thường phát hành trái phiếu (bởi trái phiếu là loại chứng khoán có tính ổn định cao, mệnh giá lớn) , đối với doanh nghiệp thường là các loại cổ phiếu (thường là cổ phiếu thường) hoặc trái phiếu, tổ chức tài chính phát hành trái phiếu hoặc chứng chỉ quỹ. Nhà đầu tư có thể là nhà đầu tư cá nhân hoặc có tổ chức.
Tùy vào mục tiêu và khả 4 c năng mà mỗi chủ thể sẽ có cách thức đầu tư khác nhau. Ví dụ: đối với các nhà đầu tư cá nhân tùy theo khả năng chấp nhận rủi ro của mình mà họ sẽ lựa chọn loại chứng khoán phù hợp, còn những nhà đầu tư có tổ chức (nếu là công ty chứng khoán sẽ có mảng hoạt động tự doanh chứng khoán) họ thường tìm đến những khoản lợi nhuận lớn nên sẽ luôn có một bộ phận chuyên nghiệp để xây dựng chiến lược và danh mục đầu tư nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư, hạn chế rủi ro. Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán gồm công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ, tại Việt Nam hiện nay công ty quản lý quỹ không nhiều cho đến năm 2015 chỉ có khoảng hơn 40 công ty đang hoạt động trên thị trường chứng khoán. Tổ chức hoạt động chính và chủ yếu nhất hiện nay là các công ty chứng khoán, hầu hết doanh thu của các công ty này đến từ hoạt động môi giới và tư vấn đầu tư chứng khoán.
Các tổ chức có liên quan trên thị trường chứng khoán gồm: Cơ quan quản lý nhà nước (Ủy Ban Chứng Khoán Nhà nước Việt Nam), Sở giao dịch chứng khoán (gồm Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội) , Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán, Tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán… 2. Phân loại thị trường chứng khoán Từ chính sự đa dạng của các loại hàng và chủ thể tham gia mà thị trường chứng khoán có rất nhiều cách phân loại, tuy nhiên có 2 cách phân loại chính đó là dựa vào mục đích của giao dịch và căn cứ vào hình thức tổ chức, phương thức giao dịch. Mọi hoạt động trên thị trường đều được chuẩn hóa và có những quy trình bắt buộc phải tuân theo. Căn cứ vào quy trình này (mục đích của giao dịch) thị trường chứng khoán có thể chia thành: thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp.
Để huy động vốn bằng chứng khoán thì doanh nghiệp phải phát hành chứng khoán, hoạt động này diễn ra trên thị trường sơ cấp. Sau khi được phát hành trên thị trường sơ cấp chứng khoán sẽ được mua đi bán lại trên thị trường thứ cấp. Qua quy trình trên ta có thể thấy mỗi một thị trường đều đóng vai trò là một mắt xích quan trọng, thị trường thứ cấp không thể tồn tại nếu thiếu thị trường sơ cấp (nếu không có chứng khoán được phát hành trên thị trường sơ cấp thì thị trường thứ cấp sẽ không có hàng hóa là chứng khoán để hoạt động giao dịch) và thị trường sơ cấp không thể tiếp tục phát triển nếu không có thị trường thứ cấp (chứng khoán sau khi được phát hành ra trên thị trường sơ cấp mà không có thị trường thứ cấp thì không có nơi để giao dịch). Không phải bất cứ chứng khoán nào cũng được giao dịch tại Trung tâm giao dịch 5 c chứng khoán.
Với những chứng khoán chưa được niêm yết hoặc chỉ có thể mua bán thông qua thương lượng thì sẽ có một thị trường riêng cho chúng. Căn cứ vào hình thức tổ chức và phương thức giao dịch này thì gồm có 2 loại thị trường chính: thị trường giao dịch tập trung (Sở giao dịch chứng khoán) và thị trường phi tập trung (OTC). Trong 2 loại thị trường trên thì Trung tâm giao dịch chứng khoán là thị trường chính thức, quan trọng (bởi những chứng khoán niêm yết trên thị trường này thường là chứng khoán của các công ty lớn, thỏa mãn những điều kiện về tiêu chuẩn niêm yết) và chính yếu nhất (thị trường này quyết định đến tình trạng hoạt động của các thị trường còn lại, khi thị trường chính hoạt động sôi nổi thì các thị trường còn lại cũng như vậy). Chức năng của thị trường chứng khoán Khi nói đến chức năng của thị trường chứng khoán thì điều đầu tiên phải đề cập đến đó là huy động vốn.
Đó là chức năng chủ yếu nhất của thị trường, bên cạnh đó thị trường còn có những chức năng quan trọng khác như: tạo ra môi trường đầu tư cho tất cả các cá nhân và tổ chức muốn tìm kiếm lợi nhuận, tạo tính thanh khoản cho chứng khoán, giúp nhà đầu tư đánh giá được hoạt động của doanh nghiệp và là nơi để chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô. Bàn đến chức năng huy động vốn, ta thường chỉ hiểu theo một khía cạnh hẹp rằng phát hành chứng khoán chỉ là hình thức huy động vốn để hỗ trợ cho hoạt động của riêng doanh nghiệp.