đặt vấn đề “tính người” trong phái Nho gia.Trong sách Luận ngữ, ông đề cập tới chữ “tính”, ông nói “Bản tính người ta gần giống nhau, nhưng chịu ảnh hưởng khác nhau mà thành khác 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhau” [59, tr. Như vậy, theo Khổng Tử, bản tính con người khi mới sinh ra là hoàn toàn giống nhau, đều ngây thơ, trong trắng, đó là cái bản tính có sẵn được trời ban cho nhưng khi chịu sự tác động của ngoại cảnh, của các yếu tố xã hội thì bản tính ấy của con người bị biến đổi. Có thể nói, khi đề cập đến vấn đề tính người, Khổng Tử chưa bàn luận, giảng giải gì nhiều, nhưng quan niệm về tính của ông là tư tưởng cơ bản, đặt nền tảng ban đầu để từ đó các nhà Nho về sau kế thừa, phát triển. Tiếp tục Khổng Tử, Mạnh Tử đã có những bổ sung về thuyết “tính Thiện” của mình.
“Thuyết tính Thiện” được thể hiện phần lớn khi Mạnh Tử tranh luận với Công Đô Tử, người mang tư tưởng của Cáo Tử “Cáo Tử cho rằng: cái tính nhiên của người ta giống như nước chảy. Khi người ta khai thông phía đông, thì nước chảy về phía đông; khi người ta khai thông phía tây thì nước chảy về phía tây. Cái tính tự nhiên của người ta chẳng phân biệt được việc thiện với việc ác; ấy cũng như dòng nước chẳng phân biệt được phía đông và phía tây vậy. Mạnh Tử đã nói rằng: đã đành dòng nước chẳng phân biệt được phía đông và phía tây nhưng há nó chẳng phân biệt được phía trên và phía dưới sao? Cái bản tính của người ta vốn thiện, ấy cũng như cái bản tính của nước là dồn xuống phía dưới thấp vậy.
Không một người nào tự nhiên sinh ra mà bất thiện, cũng như thế, không một thứ nước nào mà chẳng chảy xuống thấp” [61, tr. “ Cáo Tử cho rằng: Cái bản tính của người chẳng nhất thiết là thiện hay ác, tự nơi người dùng nó là thiện hay ác mà thôi. Ấy cũng như nước chẳng nhất định chảy về đâu, hễ phía nào thông thì nó chảy về phía đó. Mạnh Tử bổ cứu thêm rằng: Cái bản tính của người nhất định là thiện, giống như cái bản tính của nước là nhất định chảy xuống thấp.
Cho nên dẫu cho người ta chặn nghịch dòng của nó thì nó có sức phản động để vượt khỏi chỗ ngăn bít nhằm tìm chỗ thấp mà chảy xuống nữa. Chiếu theo đó nếu nhà cầm quyền thi hành chính sách bạo ngược, thì bị cái sức phản động của cái tính bản thiện của dân chúng, ắt dân chúng sẽ tung khỏi xiềng xích của nhà cai trị ấy mà nương 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cậy vào nhà chính trị khác có nhân” [61, tr. Ngoài ra, thuyết “Tứ đoan” nổi tiếng trong thiên Công Tôn Sửu cũng là một nội dung quan trọng của thuyết tính thiện. Theo đó, Mạnh Tử cho rằng, bản tính con người từ khi sinh ra là do trời phú, cho nên vốn là thiện, bản tính của con người là thiện, cũng như nước phải chảy xuôi ,từ chỗ cao xuống chỗ thấp.
Người ta không ai là bất thiện, cũng như không có loại nước nào là không chảy từ chỗ cao chảy xuống chỗ thấp. Minh chứng cho nhận định này, trong sách Mạnh tử, ông đã đưa ra hình ảnh đứa trẻ khi mới sinh ra vốn đã có tình cảm quyến luyến với cha mẹ, lòng yêu mến anh chị em của mình, ai cũng động lòng thương xót và muốn cứu đứa trẻ khi nhìn thấy nó sắp té xuống nước. Cái tình cảm quyến luyến và động lòng thương xót ấy Mạnh Tử gọi là “lương tri”, “lương năng”. Trong sách Mạnh tử, khi Cáo Tử cho rằng điều nhân ái là do nơi mình còn điều hợp nghĩa là do nơi ngoài thì Mạnh Tử đã bổ cứu rằng: điều nhân và điều nghĩa cả hai đều do nơi tâm tính mình hết [61, tr.
Điều này có nghĩa là, con người sống một cách tự giác, dù ở trình độ học vấn nào hay tiêu chuẩn giá trị của họ là gì thì lúc nào họ cũng có ý niệm tự giác về điều nên làm hay không nên làm một việc gì đó. Tính tự giác đó theo Mạnh Tử thì đó là cái vốn sẵn có của con người, bao gồm: “trắc ẩn”, “tu ố”, “từ nhượng”, “thị phi”: “Trắc ẩn chi tâm” (lòng thương xót mọi người), “Cung kính chi tâm” (kính trên nhường dưới), “Tu ố chi tâm” (biết hổ thẹn), “Thị phi chi tâm” (biết nhận ra điều phải trái) [61, tr151-152]. Các loại tự giác thông qua các hình thức biểu hiện của nó trở thành nguồn gốc cho các đức tính của con người. Song, Mạnh Tử cũng nhấn mạnh, “đoan” chỉ là điểm khởi đầu, bản thân lòng tự giác đã bao chứa đầy đủ các đức tính, muốn cho các đức tính được phát triển viên mãn thì phải có sự nỗ lực không ngừng của lòng tự giác.
Cụ thể: “Trắc ẩn chi tâm” chính nguồn gốc của đức Nhân, “Tu ố chi tâm” là nguồn gốc của đức Nghĩa, “Cung kính chi tâm” là nguồn gốc của đức Lễ, “Thị phi chi tâm” là nguồn gốc của đức Trí. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tất cả các đức tính đều là cái vốn có của con người và đầy đủ trong “tâm” của mỗi người. Công Đô Tử nói rằng: “Cáo Tử nói rằng bản tính người ta không phân biệt thiện với bất thiện. Người khác lại nói: “Bản tính người ta có thể làm điều thiện, cũng có thể khiến làm điều bất thiện.
Vì thế, Văn vương, Vũ vương dấy lên mà dân ham chuộng điều thiện, U, Lệ dấy lên, mà dân ưa thích việc hung bạo. Người khác lại nói rằng có người bản tính vốn thiện, cũng có người bản tính vốn bất thiện. Vì thế mà vua Nghiêu là thánh quân lại có người tượng (độc ác làm dân), ông Cổ Tẩu làm cha lại có con là ông Thuấn (hiếu hạnh),…Nay thầy dạy rằng: tính bản thiện, thì mấy người kia đều nói sai hay sao?” Mạnh Tử đáp rằng: - Nếu xét bản tính phát động ra ở mặt tình cảm, thì thấy mọi người đều có thể làm điều thiện, nên ta mới nói bản tính vốn lành. Ôi nếu có kẻ làm điều bất thiện, có phải lỗi ở bản chất của tính đâu.
Lòng trắc ẩn ai ai cũng có, lòng tu ố ai ai cũng có, lòng cung kính ai ai cũng có, lòng thị phi ai ai cũng có. Lòng trắc ẩn là đầu mối của nhân, lòng tu ố là đầu mối của nghĩa, lòng cung kính là đầu mối của lễ, lòng thị phi là đầu mối của trí vậy.Nhân, nghĩa, lễ, trí chẳng phải ở ngoài đổ khuôn vào ta, mà ta có sẵn cả, chẳng qua không nghĩ tới mà thôi. Vì thế người xưa mới nói “cầu thì được, bỏ thì mất” [61, tr. Tuy nhiên, căn nguyên của giá trị nằm ở lòng tự giác là một chuyện, song con người trong hoạt động kinh nghiệm của mình có phát huy được ý thức giá trị hay không lại là một chuyện khác.
Tóm lại, theo quan niệm của Nho giáo Khổng - Mạnh, bản tính con người là thiện, có nguồn gốc từ trời, là cái bẩm sinh do trời phú cho. Nếu con người biết nuôi dưỡng thiện đoan thì có thể trở thành bậc thánh nhân. Nếu con người không biết nuôi dưỡng thiện đoan, để nó mai một đi thì sẽ trở nên nhỏ nhen, ích kỷ. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Quan niệm của Nho giáo Khổng - Mạnh về vai trò của con người. Nho giáo Khổng - Mạnh nhìn nhận thế giới trong mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau, thế giới và vạn vật là một chỉnh thể thống nhất. Trong các mối quan hệ thì Nho giáo Khổng - Mạnh đặc biệt quan tâm đến hai mối quan hệ cơ bản: mối quan hệ giữa trời với người và mối quan hệ giữa con người với xã hội, từ đó nêu bật lên vị trí, vai trò của con người trong thế giới, trong xã hội. Khi đề cập về vấn đề vai trò con người, Nho giáo Khổng - Mạnh đã đặt con người trong mối quan hệ với tự nhiên (trời, đất, vạn vật) và với xã hội (biểu hiện trong quan hệ giữa người với người, con người với xã hội).
Cụ thể: Thứ nhất: Vai trò của con người trong mối quan hệ với trời đất, vạn vật. Xuất phát từ quan điểm “vạn vật gốc ở trời” (Kinh Lễ), “Trời sinh ra người…thì người phải lấy Trời làm gốc” (Kinh Thi) nên theo Nho giáo Khổng - Mạnh, con người phải biết thực hành đúng “đạo trời”, “mệnh trời” (biết mệnh trời thì chẳng có thể là người quân tử) [46, tr. Bàn về trời và vai trò của trời đối với con người và xã hội, Nho giáo Khổng - Mạnh đưa ra phạm trù Thiên mệnh. Mệnh của trời (Thiên mệnh) là quyền uy, sự thể hiện của trời đối với vạn vật trong sự sinh thành, biến đổi tức là cái đức, cái tính của con người,… đều là mệnh trời định sẵn không thể cưỡng lại được.
Theo Khổng Tử, “tri thiên mệnh” (biết mệnh trời) là điều hết sức quan trọng. Đối với người quân tử “biết mệnh trời” là tiêu chuẩn cơ bản và là yêu cầu cần phải có: “Bất tri mạng, vô dĩ vi quân tử dã” (không biết mệnh trời thì chẳng có thể làm người quân tử). Khi đã biết mệnh trời thì tất yếu phải sợ mệnh trời. Sợ mệnh trời là tiêu chuẩn cơ bản để phân biệt quân tử (người có đạo đức, kẻ thống trị) với tiểu nhân (không có đạo đức, kẻ bị trị) như Khổng Tử nói: “Người quân tử có 3 điều kính sợ: sợ mệnh trời, sợ bậc đại nhân, sợ lời dạy của thánh nhân, kẻ tiểu nhân 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com không biết mệnh trời nên không sợ, khinh nhờn bậc đại nhân, coi thường lời dạy của thánh nhân” [59, tr.
Tiếp tục tư tưởng của Khổng Tử, Mạnh Tử đã nêu lên quan điểm: khi con người biết mệnh Trời thì điều cơ bản là không được làm trái mệnh Trời, mà phải suy nghĩ, hành động theo mệnh Trời, nếu không sẽ bị mắc tội với Trời và bị Trời trừng phạt. Rõ ràng, quan niệm của Nho giáo Khổng - Mạnh về vai trò của con người trong mối quan hệ với trời về cơ bản là duy tâm, phản động. Trước trời, con người chỉ là một lực lượng thụ động, nô lệ. Vai trò của con người chỉ giới hạn, thu hẹp ở việc thực thi theo mệnh lệnh của trời.
Thứ hai: Vai trò của con người trong xã hội (biểu hiện chủ yếu trong các quan hệ xã hội cơ bản) Theo quan niệm của Khổng Tử, con người sống trong xã hội có 5 mối quan hệ cơ bản bao gồm: vua - tôi, cha - con, chồng - vợ, anh - em, bạn bè.