phần Mở đầu, phần Kết luận và Tài liệu tham khảo, kèm theo Phụ lục, phần nội dung chính của luận văn trình bày theo ba chƣơng: Chƣơng 1. Trần Quang Quý và hành trình sáng tạo thơ Chƣơng 2. Ba cảm hứng chính trong thơ Trần Quang Quý Chƣơng 3. Một số phƣơng diện cơ bản về nghệ thuật thơ Trần Quang Quý 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com NỘI DUNG Chƣơng 1.
TRẦN QUANG QUÝ VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO THƠ 1. Thơ hiện đại Việt Nam sau 1975 Sự đa dạng về phong cách và sự phong phú về giọng điệu là đặc điểm nổi bật của thơ Việt sau 1975. Nếu trƣớc đây, Tố Hữu và Chế Lan Viên đƣợc coi là những ngƣời lĩnh xƣớng của thơ ca kháng chiến thì sau 1975, hiện tƣợng này không xuất hiện trở lại. Thay vào đó, mỗi ngƣời có cách thể hiện cái nhìn nghệ thuật của mình.
Sự gần gũi về quan niệm và phong cách giữa một số nhà thơ có thể hình thành một xu hƣớng, một phái nhóm chứ không xuất phát từ một phƣơng pháp sáng tác độc tôn nào đó. Chính sự đa dạng và sự “phân cực” về tƣ duy nghệ thuật, về khuynh hƣớng thẩm mĩ, về bút pháp và ngôn ngữ là một dấu hiệu cho thấy thơ ca sau 1975 đang sải những bƣớc chân mạnh mẽ trên con đƣờng hiện đại hoá. Ngƣời ta không còn thấy lạ khi bên này là những nhà thơ đắm mình trong văn hoá truyền thống và bên kia là những cách tân theo kiểu phƣơng Tây, bên này là những nhà thơ có ý thức tỏ bày cảm xúc mãnh liệt và bên kia là những cây bút tỉnh táo giấu kín cảm xúc của mình…Tất cả những phƣơng cách ấy đều có quyền tồn tại với điều kiện là thơ họ phải có hay và mới. Nhƣng mới không có nghĩa là đoạn tuyệt với truyền thống và hay không đồng nghĩa với những thuật xiếc chữ để tạo nên sự tân kì mà trống rỗng.
Đọc thơ, suy cho cùng cũng một cách tiếp cận kinh nghiệm sống, tiếp cận những giá trị tinh thần do nhà thơ sáng tạo nên. Nhƣng mỗi nhà thơ đều phải sống trong một thời đại cụ thể, trong một không gian tinh thần cụ thể. Vì thế, thơ họ, một mặt, thể hiện những suy tƣ cá nhân độc đáo nhƣng mặt khác, những suy tƣ ấy phải thể hiện đƣợc tâm thế và trạng thái tinh thần của thời đại 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. đây không phải là chuyện thể hiện “tinh thần công dân” trong sáng tạo nghệ thuật mà thực chất, là năng lực cảm nhận chiều sâu thế giới của nghệ sĩ.
Bỏ qua điều này có nghĩa là rời bỏ quan điểm lịch sử khi xem xét và đánh giá các giá trị nghệ thuật của các thời đại khác nhau. Điều đó đòi hỏi việc đánh giá thơ ca nƣớc nhà trong hơn ba mƣơi năm qua cần đƣợc đƣợc nhìn nhận một cách khách quan và xuất phát từ những tiêu chí khoa học hợp lý. Không vì đánh giá cao những đổi mới trong thơ đƣơng đại mà xem nhẹ những đóng góp của thơ ca thời kháng chiến và cũng không nên xuất phát từ tƣ duy nghệ thuật thời kỳ 1945-1975 để bắt bẻ và hắt hủi những nỗ lực cách tân (thậm chí có khi cực đoan) của những cây bút mong muốn đổi mới nhiệt thành. Thơ ca hậu chiến cho thấy những chuyển đổi về tƣ duy nghệ thuật và ý thức “cởi trói” để xác lập một quan niêm về nghệ thuật.
Gắn liền với những thay đổi ấy trong cấu trúc tƣ duy nghệ thuật là vị thế của nhà thơ trong hoàn cảnh mới. Nhà thơ không phải là những ngƣời rao giảng đạo đức hay minh họa cho một tƣ tƣởng sẵn có mà anh ta phải góp phần đánh thức những khát khao, những niềm trắc ẩn của con ngƣời trên cơ sở trình bày cảm nhận của mình về các giá trị. Nỗ lực khám phá sự phong phú của “cái tôi ẩn giấu”, dám phơi bày những bi kịch nhân sinh, hoài nghi những giá trị vốn đã quá ổn định để đi tìm những giá trị mới. Đây là lý do nhiều tác phẩm xuất hiện cảm hứng “giải thiêng” và khát vọng muốn tìm đến những hình thức tổ chức ngôn từ mới lạ.
Đọc thơ bây giờ, có cảm giác phần đông nhà thơ đều muốn chống một cái gì đó cho đúng vẻ có bản lĩnh cách tân và hiện đại hóa; cố gắng phô diễn sự vi phạm một điều gì đấy cho có vẻ hợp thời và thể hiện sự bạo dạn của ngƣời cầm bút. Nhiều nhà thơ sáng tác sau 1986 muốn chống lại ngôn ngữ sử thi, thơ điệu ca trƣớc kia; đối với họ đó là thứ ngôn từ đã trở thành sáo rỗng, nhàm chán, phiến diện, cần dứt khoát từ bỏ để truyền cho thơ một điệu 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thức mới, một đời sống thực sự mới mẻ. Họ có thể chống lại những quy ƣớc chung của cộng đồng, những gì đƣợc cho là cấm kị, phi thơ, phi văn học; có thể chống chính thế hệ đi trƣớc, những văn bản văn học trƣớc đó đƣợc lƣu hành và có ảnh hƣởng nhất định đối với công chúng, chống lại một thứ ngôn ngữ kiến tạo ra những con ngƣời điển hình. Thậm chí, họ chống lại sự diễn giải có tính chất quán tính về thơ của họ, mọi sự đọc theo cách cũ, tiêu chuẩn cũ, chống lại những nhà phê bình quen “cầm roi” và độc quyền chân lý.
Nhƣ vậy là, nhà thơ bây giờ tiếp tục đòi hỏi mở rộng tƣ duy và cách viết, muốn làm mới bằng cách chống lại mọi thứ hiện hữu - từ quan niệm văn học, khuôn mẫu thể loại, mỹ cảm, ngôn từ, đến những cách nhìn, cách cảm thế giới và những thiết chế xã hội văn hóa đang ràng buộc, hiệu chỉnh, quyết định mọi cái viết; kháng cự lại những cái viết chức năng/ công cụ. Bản chất của thơ, của văn học nhƣ là sự chống lại những thói quen, những cái hàng ngày, những thứ lâu ngày đã trở thành quán tính trƣợt ra ngoài sự chú ý của chúng ta? Phải chăng sử dụng ngôn ngữ cấm kỵ, miêu tả những vùng cấm kỵ, bộc lộ thái độ cấm kỵ là sự đổi mới thơ/ văn học đích thực? Ngƣời viết nào cũng đối diện với một bên là bảo tồn, duy trì, triển diễn những nội dung cũ, hình thức cũ - một sự quay trở về, hòa tan vào đám đông, bồi đắp cho “những ngọn núi”; với một bên là kháng cự cái đã biết, tìm cách thay đổi, làm khác đi, nhằm tạo ra những hình thức mới, nội dung mới - một sự mở đƣờng, tiến về phía trƣớc. Sáng tạo là sự chống lại cái cũ, cái đã quen theo nhiều đƣờng hƣớng khác nhau. Chống lại cái đã quen để làm khác, làm mới, làm cho văn học phong phú hơn, đa dạng hơn và còn để thỏa mãn khoái cảm thẩm mỹ, đánh dấu sự hiện diện của cá nhân.
Sáng tạo bao giờ cũng là sự thay đổi, tháo dỡ, “sai khác”, cấu trúc lại… nhằm tạo ra cái khác. Vì vậy, sáng tạo là một hành động nguy hiểm, đầy khó khăn thử thách, không ít rủi ro và khó tránh khỏi sự chỉ trích, chế giễu, phủ nhận của đám đông đại diện cho cái cũ. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đích của sáng tạo không phải hƣớng đến cái tôi hay cái ta, mà là ngôn ngữ mới, luật chơi mới, tri thức mới - những thứ có thể gây ra ở ngƣời đọc một khoái cảm, hiệu ứng nào đó, thậm chí một sự khó chịu. Không có tham vọng làm khác, tạo ra một ngôn ngữ mới, lời nói mới, kí hiệu mới, cách nhìn mới nào thì sự viết đó coi nhƣ chƣa có ý thức sáng tạo, chƣa có bản lĩnh sáng tạo.
Khoái cảm của ngƣời viết thể hiện ở chỗ anh ta say mê với ngữ pháp mới, quan niệm mới, cách nhìn mới, ý tƣởng mới, từ ngữ mới. Khoái cảm của anh ta là khoái cảm với những câu chữ, kí hiệu - tự do nghĩ ra những phát ngôn mới, nỗ lực tìm kiếm cách nói mới, đặt ra những từ ngữ mới, cấu trúc những nhịp điệu khác và lạ. Trần Quang Quý đời sống và sáng tạo thơ 1. Tác giả Trần Quang Quý Nhà thơ Trần Quang Quý, sinh năm 1955, quê xã Xuân Lộc, huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ.
Từ năm 1971-1977, là công an nhân dân vũ trang (nay là bộ đội biên phòng). Năm 1983-1985, học khoá II, trƣờng viết văn Nguyễn Du. Năm 2000, cử nhân Anh ngữ, đại học Ngoại ngữ Hà Nội. Anh đã từng là cán bộ văn hóa Vĩnh Phú; Tổng biên tập tạp chí Dân số & Gia đình; Tổng biên tập báo Gia đình & Xã hội; Phó ban nhà văn trẻ Hội Nhà văn Việt Nam.
Hiện đang là Phó Giám đốc Nhà xuất bản Hội Nhà văn. Tác giả làm báo và sáng tác văn thơ. Thơ Trần Quang Quý thƣờng phát hiện từ khía cạnh thầm kín trong tâm hồn và có cách tân về hình thức; từng đƣợc giải nhì thơ của tạp chí Văn nghệ Quân đội, giải thƣởng thơ của tuần báo Văn nghệ và của Hội Nhà văn Việt Nam. Trần Quang Quý quan niệm: "Thái độ sống quyết định sáng tác.
Tôi cho rằng, dù làm bất cứ việc gì, nếu không tận tâm, tận lực với nó thì chỉ có thể thành thợ. Văn chương lại khó khăn hơn nhiều; đặc biệt là thơ. Nó đòi hỏi sự ký thác máu thịt, một thái độ văn hoá, một sự đồng cảm lớn. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Hành trình sáng tạo thơ Sinh thời M.Gorki đã từng khẳng định “Nghệ sĩ là ngƣời biết khai thác những ấn tƣợng riêng chủ quan của mình, tìm thấy trong những ấn tƣợng có cái giá trị khái quát và biết làm cho những ấn tƣợng ấy có đƣợc hình thức riêng”. Có thể nói, tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá một nghệ sĩ là ở chỗ anh ta có đem lại một cái gì mới mẻ, riêng biệt hay nói chính xác, là một phong cách độc đáo cho nền văn học dân tộc hay không? Những sáng tác của Trần Quang Quý “không muốn lặp lại những nẻo đƣờng ngƣời khác đã từng đi. Anh muốn đƣa thơ vƣơn tới tầm tƣ duy mới mẻ của thơ ca hiện đại” (Nguyễn Đăng Điệp). Những sáng tác của anh đƣợc độc giả và các nhà nghiên cứu, phê bình đánh giá cao nhƣ các tập thơ: Viết tặng em trong ngôi nhà chật (1990); Mắt thẳm (1993); Giấc mơ hình chiếc thớt (2003); Siêu thị mặt (2006); Cánh đồng người (song ngữ Việt – Anh, 2010).