mở đầu, đánh dấu sự có mặt của văn xuôi các DTTS ở phương diện sáng tác văn chương cũng như sử dụng văn xuôi và ngôn ngữ mẹ đẻ để thể hiện hình ả nh những con người DTTS mới với những thay đổi sâu sắc trong cách sống, cách nghĩ, cách làm để phá bỏ những tập tục cũ nghèo nàn, lạc hậu, mê tín dị đoan vươn lên xây dựng và 12 làm chủ cuộc sống mới trên quê hương miền núi. Tác phẩm của Nông Minh Châu ra đời đã mở đường cho hàng loạt truyện ngắn của các tác giả DTTS xuất hiện và được chú ý như : Ngôi sao trên đỉnh núi Phja Hoàng, Cây su su noọng Ỷ, Nước suối tiên đào của nhà văn dân tộc Tày Vi Hồng; Bên bờ suối tiên của Triều Ân, Đêm giao thừa, Đặt tên của Vi Thị Kim Bình; Ké Nàm của Hoàng Hạc; Mương Nà Pàng của Nông Viết Toại,. Các tác phẩm văn xuôi thời kỳ này tập trung phản ánh hiện thực về cuộc sống con người, quê hương miền núi với tình cảm yêu mến, ngợi ca, với niềm tin vào sức sống mãnh liệt trong tâm hồn của những con người vùng cao. Với sự có mặt của nhiều tác giả là người DTTS văn xuôi dân tộc thiểu số Việt Nam đã dần được khẳng định - như nhà lý luận phê bình Lâm Tiến đã từng phát biểu một cách tự hào về vị trí vai trò quan trọng của văn học DTTS:“Góp phần xứng đáng vào công cuộc cách mạng, cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ và xây dựng Xã hội Chủ nghĩa, trở thành một bộ phận không thể thiếu của nền văn học Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.
Tuy nhiên, văn xuôi các dân tộc miền núi chỉ có thể được ghi nhận từ những năm 60 và đặc biệt những năm sau chiến tranh. Đây chính là thời kỳ văn xuôi miền núi có điều kiện phát triển mạnh mẽ. Thời kỳ này các nhà văn DTTS có ý thức dùng văn học phản ánh hiện thực cuộc sống và phục vụ cho nhiệm vụ chính trị, xã hội của vùng dân tộc và miền núi. Vì vậy, văn xuôi DTTS luôn bám sát chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể.
Truyện ngắn và kí của văn học DTTS ra đời trong khoảng những năm sáu mươi, đến 1989 đã có khá nhiều tập truyện ngắn và kí cùng với hàng trăm tác phẩm đã được xuất bản. Lực lượng sáng tác là người DTTS đông đảo hơn và thành tựu sáng tác cũng rõ ràng và rực rỡ hơn. Thời kỳ này văn xuôi DTTS phát triển khá mạnh về số lượng cũng như chất lượng, giúp chúng ta có thể nhận ra một cách rõ ràng về diện mạo riêng cùng những đặc điểm riêng của văn xuôi DTTS. Có thể kể tên các tác phẩm văn xuôi tiêu biểu của các tác giả người DTTS như: Tiếng hát rừng xa của Hoàng Hạc; Đoạn đường ngoặt của Nông Viết Toại (1973); Tiếng chim Gô của Nông Minh Châu (1979); Niềm vui của Vi Thị Kim Bình (1979); Tiếng khèn A Pá của Triều Ân (1980); Cột mốc giữa lòng sông của Mã A Lềnh (1981); Những bông Ban tím của 13 Sa Phong Ba (1981); Hạt giống mới của Hoàng Hạc (1983); Chiếc Vòng bạc của Lò Ngân Sủn (1987), Đường qua đèo mây của Triều Ân (1988); Đuông thang của Vi Hồng (1988); Xứ lạ mường trên của Hoàng Hạc (1989)… Bên cạnh thể loại truyện ngắn và kí còn có thể loại tiểu thuyết, thể loại này cũng đã đạt được những thành tựu đáng kể.
Đầu tiên là tác phẩm Muối lên rừng của Nông Minh Châu, sau đó là tác phẩm Hơ Giang của Y Điêng (dân tộc Ê Đê); và đến Vi Hồng với một loạt các tiểu thuyết như: Đất bằng (1980), Núi cỏ yêu thương (1984), Thung lũng đá rơi (1985) thể loại tiểu thuyết của văn học DTTS đã khẳng định được sự có mặt của mình trong thể loại tiểu thuyết Việt Nam hiện đại nói chung Nội dung chủ yếu của văn xuôi các dân tộc thiểu số thời kỳ này là phản ánh công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội và cuộc kháng chiến chống Mĩ ở cả nước và ở miền núi. Đồng thời, phản ánh những vận động, đổi mới trong đời sống các dân tộc thiểu số như: Xây dựng đất nước, xây dựng cuộc sống mới với những việc làm cụ thể: Xây dựng hợp tác xã nông nghiệp, xây dựng công trình thủy điện, làm thủy lợi, xây dựng quê hương mới, chống mê tín dị đoan, chống các phong tục cổ hủ lạc hậu, bước đầu chống nạn tham ô, tham nhũng. Bên cạnh đó một số tác giả thì đi sâu khai thác đời sống riêng, cùng thế giới nội tâm các nhân vật với tư cách con người cá nhân trong thời kỳ hiện đại ở miền núi. Bên cạnh sự xuất hiện của tiểu thuyết, truyện ngắn xuất hiện khá nhiều, đặc biệt từ sau năm 1975.
Đây là thời kỳ văn xuôi DTST phát triển với một bước mới, về cả số lượng cũng như chất lượng. Bên cạnh những nhà văn xuất hiện từ trong thời kì chống Pháp (1946- 1954) như: Nông Quốc Chấn, Bàn Tài Đoàn, Nông Minh Châu, Nông Viết Toại.; đến giai đoạn kháng chiến chống Mĩ ( 1954 – 1975) như: Triều Ân, Vi Hồng, Hoàng Hạc, Hùng Đình Quý, Mà Thế Vinh, Môlô Yclavi,Vi Thị Kim Bình, Vương Trung, Vương Anh, Y Điêng.; và từ sau 1975 đến nay xuất hiện nhiều các cây bút mới, sung sức như: Mã A Lềnh, Triệu Lam Châu, La Quán Miên, Lò Cao Nhum, Inrasara, Cao Duy Sơn, Hà Lâm Kì, Ma Trường Nguyên, Hà Lí, Kim Nhất, Hà Thị Cẩm Anh, Kha Thị Thường, Hữu Tiến, Đoàn Lư, Đoàn Ngọc Minh, Hoàng Hữu Sang, Sa Phong Ba, H'Linh Niê, Bùi Thị Như lan, Niê Thanh Mai. Vào cuối những năm 80 và đầu những năm 90 văn xuôi các DTTS rất phát 14 triển và được độc giải ghi nhận. Đây chính là thời kì chuyển từ cơ chế quản lý quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường (định hướng xã hội chủ nghĩa).
Đời sống kinh tế, chính trị của miền núi cũng có những chuyển biến mạnh mẽ, khiến cho đời sống văn học nghệ thuật miền núi cũng có một sự chuyển biến lớn. Sự thay đổi này có ảnh hưởng và tác động mạnh đến cách phản ánh hiện thực và tư duy nghệ thuật của các nhà văn DTTS. Từ năm 1990 trở đi, đời sống văn nghệ sôi nổi hơn. Văn xuôi miền núi thời kỳ này có sự mở rộng về đề tài và chủ đề, cùng sự ra đời của những tác phẩm có dấu hiệu đổi mới trong cách nhìn, trong tư duy nghệ thuật cùng sự phát triển ngày càng đông đảo hơn về đội ngũ tác giả là người DTTS.
Nếu như trước đây, văn học hầu như chỉ tập trung phản ánh những mặt tốt đẹp của hiện thực cuộc sống của con người thì giai đoạn này nhờ có sự đổi mới trong cách nhìn, cách phản ánh hiện thực - hiện thực được mở ra phong phú hơn, đa chiều hơn. Những mặt trái, những mảng khuất lấp mà văn học trước đây chưa đi vào phản ánh nay được đề cập đến nhiều hơn. Các nhà văn DTTS đã nắm bắt được vấn đề mang tính “thời sự” này để phản ánh một hiện thực mới trong các sáng tác của mình. Các tiểu thuyết: Người trong ống (1990), Gã ngược đời (1990), Vào hang (1990), Chồng thật vợ giả (1994)…của Vi Hồng được dư luận quan tâm bởi những vấn đề có tính thời sự này.
Hoàng Thế Sinh với tiểu thuyết Xứ mưa (2000); Cao Duy Sơn trong tiểu thuyết Đàn trời (2006), Ngôi nhà xưa bên suối (2007).; Triều Ân với Nắng vàng bản (1992), Nơi ấy biên thùy (1994), Dặm ngàn rong ruổi (2000). Bên cạnh những tác phẩm chú ý đến vấn đề mang tính xã hội còn một số các tác phẩm đã đi vào các khía cạnh của đời tư con người ví dụ như: Gió hoang(1992), Bến đời (1995), Mùa hoa hải đường(1998) của Ma Trường Nguyên; tập truyện Số phận đàn bà của Hoàng Thị Cành; các tập truyện Tiếng chim kỷ giàng (2004), Mùa hoa mắc mật (2005), Hoa mía (2006). của Bùi Thị Như Lan; đến các tập truyện Nước mắt của đá (2005), Mưa bụi (2008), Một nửa người đàn bà (2013) của Hà Thị Cẩm Anh. Có thể thấy, văn học DTTS thời kì này đã có sự phát triển về số lượng, chất lượng và đã có những dấu hiệu đổi mới trong cách nhìn cách phản ánh và trong tư duy nghệ thuật.
Ví dụ như cuốn tiểu thuyết Người lang thang của Cao Duy Sơn; các 15 tiểu thuyết Mùa hoa hải đường, Trăng yêu, Bến đợi của Ma Trường Nguyên; tiểu thuyết Dòng đời của Hữu Tiến; Đất bản quê cha của Vương Trung.Với những phong cách khá tiêu biểu như vậy“tiểu thuyết các dân tộc miền núi đã tự khai phá một con đường rộng rãi hòa vào dòng chảy của văn học hiện đại dân tộc” [18,tr. Bên cạnh những thành tựu nổi bật của tiểu thuyết, truyện ngắn cũng đạt được những thành công đáng ghi nhận. Truyện ngắn Hoa bay cuối trời của Cao Duy Sơn có sự vận dụng và kết hợp độc đáo của văn hóa Tày - Việt, mang lại một vẻ đẹp vừa lạ vừa quen, vừa truyền thống vừa hiện đại. Tính nhân văn được thể hiện một cách xúc động qua các câu chuyện về các hoàn cảnh, các số phận, cùng cách ứng xử văn hoá của những con người miền núi chân thật, thô mộc nhưng thật giàu tình người, giàu lòng vị tha.
Nhà văn Bùi Thị Như Lan với một loạt những truyện ngắn đã đóng góp cho sự đổi mới mảng văn xuôi DTTS miền núi ở khía cạnh khai khác chiều sâu tâm hồn con người nhất là những con người là phụ nữ và các chiến sỹ quân đội là người DTTS (Lời sli vắt ngang núi, Bồng bềnh sương núi, Mùa hoa gắm); nhà văn Hà Thị Cẩm Anh với truyện ngắn Gốc gội xù xì, Một nửa người đàn bà, Giải vía. đã phân tích, lí giải diễn biến tâm lí phức tạp của nhân vật (đặc biệt là nhân vật người phụ nữ Mường) một cách hợp lí với lối kể chuyện chân thật, mộc mạc, giản dị, dễ hiểu nhưng giàu tính biểu tượng, sâu sắc và cảm động lòng người. Văn xuôi miền núi thời kì Đổi Mới có sự mở rộng đề tài, chủ đề, và có sự thay đổi trong cách nhìn, cách phản ánh hiện thực và tư duy nghệ thuật và có sự đi lên. Bên cạnh các tác giả ở giai đoạn trước vẫn tiếp tục sáng tác như: Vi Hồng, Triều Ân, Mã A Lềnh, Sa Phong Ba, Cao Duy Sơn.
còn có thêm nhiều gương mặt mới như: Hà Thị Cẩm Anh, Hữu Tiến, Hoàng Quảng Uyên, Đoàn Ngọc Minh, Bùi Thị Như Lan, Linh Nga NiêKdam, Niê Thanh Mai.