Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC PHÁP CHẾ TRONG LUẬT HÌNH SỰ 1. CỘI NGUỒN XUẤT HIỆN VÀ Ý NGHĨA CỦA NHỮNG TƢ TƢỞNG PHÁP LÝ TIẾN BỘ VỀ PHÁP CHẾ "NULLUM CRIMEN, NULLA POENA SINE LEGE" TRONG LỊCH SỬ TƢ PHÁP HÌNH SỰ THẾ GIỚI 1. Cội nguồn xuất hiện của những tƣ tƣởng pháp lý tiến bộ về pháp chế "Nullum crimen, nulla poena sine lege" trong lịch sử tƣ pháp hình sự thế giới Trong các nhà nước bóc lột, pháp luật nói chung và nhất là PLHS luôn luôn là công cụ đàn áp giai cấp với những hình phạt nặng nề, hà khắc. Pháp luật không chỉ trừng trị hành vi mà còn trừng trị cả quan điểm, cả suy nghĩ của con người.
Hình phạt được áp dụng không chỉ đối với người có hành vi mà cả đối với gia đình họ, thân tộc của họ. Một hành vi phạm tội có thể bị xử nhiều lần và chịu nhiều hình phạt khác nhau. Sự man rợ đó được thực hiện bằng sự hợp thức hóa trong luật và cả ngoài luật. Sự thể hiện này được phản ánh thông qua các di tích pháp lý của thời đại phong kiến - từ đạo luật của các hoàng đế các nước Tây Âu thế kỷ VI - XVI, các Bộ luật nhà Đường thế kỷ VII và của nhà Tống thế kỷ X ở Trung Quốc, BLHS thế kỷ VIII của Nhật Bản, Bộ Hình thư về các hình phạt hình sự và các hình phạt cải tạo ở nước Nga Sa Hoàng thế kỷ XIX; v.
Tuy nhiên, sự phát triển của loài người đi theo hướng nhân đạo hóa và dân chủ hóa và vì vậy ngay từ trong lòng của các chế độ phong kiến, bóc lột đã dần dần nảy sinh những tư tưởng tiến bộ và nhân đạo, đề cao pháp luật để bảo vệ phẩm giá con người và tính mạng của họ. Theo đó, trong thời đại cách mạng tư sản, những tư tưởng chống phong kiến chuyên quyền đã kèm theo tư tưởng pháp chế và nhân đạo để chống lại tình trạng vô pháp luật, sự tùy tiện và lạm quyền của chế độ phong kiến. Cho nên, vào cuối thế kỷ 18 phong trào 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cải cách luật hình sự được phát động nhằm thúc đẩy quyền tự do, chống lại sự tùy tiện, lạm quyền, vi phạm các quyền của con người từ phía nhà lập pháp và tư pháp. Người khởi xướng phong trào này, trước hết là S.
Montesquieu (1689 - 1755), người đại diện cho trường phái Khai sáng - Nhân văn trong khoa học luật hình sự. Trong tác phẩm nổi tiếng "Về tinh thần của pháp luật" năm 1748, một mặt, ông đã chỉ trích, phê phán PLHS phong kiến, mặt khác, đã nêu lên nhiều nguyên tắc cơ bản và quan trọng của luật hình sự văn minh, tiến bộ. Những nguyên tắc đó như: - Tội phạm và hình phạt phải được quy định bởi các đạo luật đã được dân chúng biết đến, chứ không phải theo ý muốn của những người có chức quyền. - Pháp luật chỉ trừng trị những hành vi thể hiện ra bên ngoài.
- Cần giữ được sự tương ứng giữa tội phạm và hình phạt, hình phạt phải phù hợp với tội phạm. - Các nhà làm luật tốt cần làm cho đạo đức được đề cao lên chứ không phải chỉ trừng trị; không phải hình phạt hà khắc sẽ giúp đấu tranh chống được tội phạm mà là tính kịp thời của việc truy cứu trách nhiệm và hình phạt. Ngoài ra, trong cuốn sách của mình, S. Montesquieu cũng đã có các chương khác nhau đề cập đến những tư tưởng về pháp chế đối với tội phạm và hình phạt như: Chương XII "Về hiệu lực của hình phạt"; Chương XIII "Sự bất lực của pháp luật Nhật Bản"; Chương XIV "Về hình phạt trong pháp luật La Mã"; Chương XVI "Về sự tương ứng giữa tội phạm và hình phạt" và Chương XVIII "Về phạt tiền và các hình phạt đối với thân thể".
Sau đó, Cesare Becaria, một luật sư trẻ người Italia đã viết quyển sách nhỏ nhưng rất nổi tiếng đó là "Khái luận về tội phạm và hình phạt" năm 1764. Với cuốn sách này, Becaria đã giữ vai trò tiên phong trong cuộc đấu tranh chống lại sự bất công, tàn bạo của chế độ đương thời. Ông đã nêu lên nghĩa vụ tôn trọng nguyên tắc pháp chế hình sự trong việc quy định tội phạm và 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hình phạt. Theo ông quan niệm, chỉ có luật mới có thể xác định hình phạt cho mỗi tội phạm và quyền làm luật chỉ có thể trao cho các nhà làm luật - người đại diện cho toàn thể xã hội được thống nhất bởi một khế ước xã hội.
Ông cho rằng Thẩm phán là một bộ phận của xã hội, cho nên họ không thể bắt một thành viên khác của xã hội phải chịu một hình phạt mà nó không được quy định trong luật. Ngoài ra, nhà tư tưởng Khai sáng lớn nhất của thế kỷ XVIII là Vollter (1694-1778) đã có nhiều tác phẩm nối tiếp hai nhà tư tưởng lớn là S. Montesquieu và Cesare Becaria, đặc biệt là cuốn sách "Bình luận cuốn sách về tội phạm và hình phạt" năm 1766 và "Phần thưởng cho sự công bằng và nhân đạo" năm 1777. Nói chung, trên cơ sở kế thừa các tư tưởng của hai nhà tiền bối đi trước, tác giả Vollter đã làm sáng tỏ nhiều nội dung về tội phạm và hình phạt, đặc biệt đề cao đạo đức, công bằng trong xã hội.
Sau đó, phong trào đấu tranh đòi cải cách luật hình sự và tôn trọng nguyên tắc pháp chế về tội phạm và hình phạt đã lan rộng khắp Châu Âu. Cuối cùng, nó đã được thừa nhận trong Tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền ở Pháp năm 1789, Điều 5 của Tuyên ngôn quy định: "Luật pháp chỉ có quyền cấm đoán những hành vi có hại cho xã hội. Tất cả những điều mà pháp luật không cấm đều không thể bị ngăn cản, và không ai có thể bị buộc phải làm những điều mà pháp luật không bắt làm"; hay Điều 8 xác định: "Luật pháp chỉ có thể đặt ra những hình phạt thật sự và rõ ràng là cần thiết và ai nấy chỉ có thể bị trừng phạt chiểu theo một luật đã được xây dựng và ban bố trước khi xảy ra việc phạm tội và được thi hành một cách hợp lý". Sau đó nguyên tắc này được quy định trong BLHS năm 1791 và 1810 của Cộng hòa Pháp, BLHS năm 1876 của Vương quốc Bỉ.
Ngoài ra, trong Hiến pháp của nhiều nước như: Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức, Cộng hòa Pháp, Vương quốc Bỉ. cũng ghi nhận rõ ràng và cụ thể nguyên tắc này. Cùng với thời gian, nguyên tắc pháp chế về tội phạm và hình phạt dần dần trở thành nền tảng quan trọng trong luật hình sự hầu hết các nước dân chủ hiện đại trên thế giới. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tuy nhiên, ở một số nước, luật hình sự không quy định nguyên tắc này.
Trong số đó, trước hết phải kể đến các nước thuộc hệ thống Anglo-saxon, tức là các nước theo hệ thống thông luật (Common Law). Ở nước Anh, Thẩm phán có quyền làm luật, họ có quyền quy định một tội phạm và hình phạt mới. Tuy nhiên, đến năm 1972, trong vụ án Knuller, Tòa án tối cao (House of Lords) tuyên bố Thẩm phán không được phép làm luật, không được quy định các tội phạm mới. Như vậy, khác với các nước khác, tại Anh quốc, nguyên tắc pháp chế không bắt nguồn từ những quy định pháp luật mà từ quyết định của cơ quan tư pháp.
Đến năm 1985, Điều 6 Dự thảo BLHS do Ủy ban luật pháp trình Quốc hội có quy định: "No offence shall be created except by, or under the authority of, an Act of Parliament". Và thế là, cuối cùng nguyên tắc pháp chế cũng được thừa nhận tại nước này với những quy định ban đầu. Còn trong các nước hồi giáo, PLHS chia tội phạm thành hai loại: had và tazir. Đối với các tội "had" Thẩm phán (cadi) cần phải áp dụng nguyên tắc pháp chế, ngược lại đối với các tội "tazir" nguyên tắc này hoàn toàn bị loại bỏ, các Thẩm phán có toàn quyền tự do quyết định khi xét xử [109, tr.
Bên cạnh đó, dưới góc độ luật quốc tế, qua nghiên cứu cho thấy nhiều văn bản pháp luật quốc tế có ghi nhận nguyên tắc pháp chế hình sự. Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền của Liên hợp quốc ban hành ngày 10/12/1948 quy định: "Không ai bị kết tội vì những hành động hay những sơ suất mà khi bị buộc tội đó không phải là một hành vi phạm tội theo luật quốc gia hay quốc tế. Cũng vậy, việc quy định hình phạt cũng không được nặng hơn hình phạt được áp dụng vào lúc phạm tội" (khoản 2 Điều 11). Nguyên tắc này cũng được ghi nhận tại Điều 15 khoản 1 Công ước của Liên hợp quốc liên quan tới quyền dân sự và chính trị ngày 19/12/1966 và Điều 7 khoản 1 Công ước của Hội đồng Châu Âu về bảo vệ quyền con người và tự do cơ bản ngày 4/11/1970; v.
Ngoài ra, ngay cả BLHS năm 1810 của Pháp cũng chỉ đề cập yêu cầu của pháp chế thông qua hiệu lực hồi tố của luật hình sự mà thôi. Hoặc BLHS năm 1937 của Thụy Sĩ khi đề cập đến tội phạm chỉ quy định đó là hành vi bị pháp 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com luật cấm hoặc bị trừng phạt, chỉ chú ý đến yếu tố hình thức của tội phạm; v. Tuy nhiên, khi đã giành được chính quyền về tay mình, giai cấp tư sản liền quên luôn cả cái mà nó đã đấu tranh cho bằng được, vì giờ đây pháp chế trở nên cái bất lợi cho nó. Cho nên, không phải ngẫu nhiên mà ngày nay các nhà tư tưởng tư sản, các triết gia và luật gia tư sản không mấy ai mặn mà với chủ đề pháp chế.
Các giáo trình đại học, các đạo luật hình sự của các nước tư bản đều không trực tiếp nói đến yêu cầu về pháp chế. Như vậy, các nội dung cơ bản của những tư tưởng pháp lý tiến bộ về pháp chế "Nullum crimen, nulla poena sine lege" trong lịch sử tư pháp hình sự thế giới bao gồm: Một là, tội phạm và hình phạt phải được quy định bởi các đạo luật do Nhà nước ban hành và đã được dân chúng biết đến, chứ không phải theo ý muốn của những người có chức vụ, quyền hạn, địa vị trong xã hội. Hai là, không được trừng trị con người bởi suy nghĩ, quan điểm và nhận thức; pháp luật chỉ trừng trị những hành vi thể hiện ra bên ngoài.