Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC BÌNH ĐẲNG TRƯỚC LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM "BÌNH ĐẲNG" DƯỚI GÓC ĐỘ TRIẾT HỌC, CÁC Ý NGHĨA XÃ HỘI VÀ PHÁP LUẬT CỦA BÌNH ĐẲNG 1. Khái niệm "bình đẳng" dưới góc độ triết học Những quan điểm đầu tiên về bình đẳng được hình thành ngay từ trong xã hội cộng sản nguyên thủy. Ở đó, bình đẳng được quan niệm như là sự cần thiết phải chấp hành các tập quán và nghi lễ đang tồn tại.
Cùng với sự phân hóa xã hội, với sự xuất hiện giai cấp, chế độ tư hữu với sự phức tạp các quan hệ xã hội, các quan niệm về bình đẳng trở nên phong phú, đa dạng và luôn phát triển. Phạm trù bình đẳng, về cơ bản, được triết học, đạo đức học, xã hội học, luật học nghiên cứu. Việc nghiên cứu những sách báo nói về bình đẳng cho thấy có hai phương pháp cơ bản mâu thuẫn nhau trong việc giải thích khái niệm, nội dung bình đẳng: Duy tâm và duy vật. Immanuel Kant (nhà triết học Đức 1724-1804) nhấn mạnh ý tưởng về "bình đẳng tôn trọng", nói rằng tôn trọng đó là nợ cho chúng tôi tất cả như là hợp lý các đại lý đạo đức.
Kant khuyên chúng ta để "chữa trị cho mỗi người đàn ông như là một kết thúc trong mình, và không bao giờ như một phương tiện duy nhất'. Ông thấy tôn trọng như là cái gì đó nên được phân phối bằng nhau, trong khi ngưỡng mộ - hoặc thái độ tương tự - nên được phân phối không đồng đều. Những tư tưởng tiến bộ về Luật hình sự cũng được thể trong các tác phẩm của các nhà Triết học duy vật thế kỷ XVIII của nước Pháp như Didro, Russo. Những nhà triết học duy vật đều nhấn mạnh vai trò của các nguyên tắc 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com như nguyên tắc pháp chế, bình đẳng, không tránh khỏi trách nhiệm, cá thể hóa trách nhiệm hình sự.
Nhà triết học Didro cho rằng, "Nhà làm luật thực hiện chức năng của mình khi đảm bảo cho mọi người bình đẳng, tạo cho họ khả năng được sống bình yên và hạnh phúc". Đối với nhà triết học theo chủ nghĩa xã hội không tưởng như Moreli vào năm 1755 đã nêu trong tác phẩm Pháp luật của tự nhiên hoặc tinh thần hợp chân lý tự nhiên của pháp luật, đó là những quan niệm của ông về hoạt động lập pháp tương lai trong xã hội xã hội chủ nghĩa. Theo Moreli thì có thể hiểu được rằng để có cớ sở đấu tranh với tội phạm thì cần phải xóa bỏ sở hữu tư nhân, mọi người trong xã hội được bình đẳng thì việc phạm tội trở thành điều vô lý. Đến nửa sau thế kỷ XVIII, tại nước Pháp xuất hiện một loạt các tác phẩm được coi như là các Bộ luật hình sự "mẫu" khi so sánh với những Bộ luật hình sự được ban hành sau này.
Có thể liệt kê những tác phẩm đó như: Kế hoạch lập pháp hình sự của Zjumon (1784), các nguyên tắc của Luật hình sự của Bernard (1780), lý luận về luật hình sự của Brisso (1782). Trong tác phẩm Kế hoạch lập pháp hình sự của Marat (1782) - đã chỉ ra được bản chất của luật hình sự phong kiến là chống lại nhân dân, chỉ bảo vệ lợi ích một nhóm thiểu số trong xã hội phong kiến đó là giai cấp thống trị trong xã hội. Chính từ việc nêu bật được bản chất đó, tác giả đã đề ra phương pháp và biện pháp cần thiết là phải xóa bỏ, nhấn mạnh mối liên hệ mật thiết giữa hoạt động lập pháp với trật tự xã hội, xuất phát từ bản chất của pháp luật phong kiến ông đã lớn tiếng bênh vực giai cấp nhân dân bị áp bức bóc lột cấn phải được bảo vệ những lợi ích [Dẫn theo 56, tr. Điểm nổi bật trong tác phẩm của Marat là đã nêu được các nguyên tắc của luật hình sự và đó có thể được coi là những nguyên tắc xuyên suốt cho đến pháp luật hình sự hiện nay vẫn được tôn trọng đó là: Bảo đảm tính chính xác của các qui định của đạo luật hình sự được thể hiện trong tác phẩm ở chỗ "điều quan trọng làm sao để mỗi người hiểu được một cách đấy đủ nội dung của các qui phạm pháp luật và biết rõ được vì sao phải chịu hậu quả pháp lý khi vi phạm pháp luật" trong pháp luật 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của chúng ta hiện nay nguyên tắc này đã được áp dụng dưới hình thức nguyên tắc phổ biến và tuyên truyền pháp luật trong nhân dân.
Sự cần thiết những điều cấm hình sự trong việc áp dụng, công bố bắt buộc các đạo luật, phòng ngừa tội phạm, không được coi là phạm tội và phải chịu hình phạt khi đạo luật hình sự không qui định, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, tùy từng mức độ và tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội mà có mức hình phạt tương ứng, cá thể hóa mức hình phạt và tính bình đẳng khi quyết định hình phạt. Trách nhiệm cá nhân. Không tránh khỏi trách nhiệm khi ông đã chỉ ra rằng: "không phải mức độ ít nghiêm khắc của hình phạt mà chính tính không bị trừng phạt của tội phạm đã làm cho các đạo luật mất tác dụng" [Dẫn theo 56]. Tuy nhiên, chúng ta có thể nhận ra rằng vào thời kỳ đó, đó là những tư tưởng chỉ mang tính ảo vọng, chưa có giá trị để thực hiện chúng vì bản thân ông và những đồng nghiệp của ông đang sống vào thời kỳ đó chưa vượt ra được khỏi bên ngoài cái được gọi là khuôn khổ cuộc sống, của giai cấp.
Nhưng chính nhờ những tư tưởng tiến bộ mang tính chất khai sáng đó đã có ý nghĩa vô cùng to lớn là cần một cuộc đấu tranh chống lại sự thống trị của giai cấp phong kiến. Từ đó đã có các cuộc cách mạng tư sản dẫn đến sự hình thành nhà nước tư sản, sau khi giành được chính quyền từ giai cấp phong kiến. Giai cấp tư sản đã tiến hành những công cuộc cải cách trong lĩnh vực pháp luật nói chung cũng như pháp luật hình sự nói riêng. Trong đó nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật đã được ghi nhận về mặt hình thức còn về mặt thực tế đó là sự bình đẳng mang tính chất giả tạo và đã được Ph.Ăngghen nhấn mạnh "là sự thâm hiểm, là điều lố bịch trước những lời hứa tuyệt vời của các nhà khai sáng".
Để phân tích sâu hơn, mang ý nghĩa rộng lớn hơn thì ông đã có sự nhận xét "Bây giờ chúng ta biết…rằng, nguyên tắc bình đẳng vĩnh hằng không còn tồn tại trong Luật hình sự tư sản, rằng sự bình đẳng của công dân trước pháp luật chỉ còn mang tính hình thức và một trong những quyền thực tế của con người đã được công bố…sở hữu tư nhân đối với tài sản" [77, tr. Khi so sánh những tư tưởng và nguyên tắc của Luật hình sự mà các nhà khai 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sáng người Pháp và các nhà dân chủ tư sản đã nêu ra với những nguyên tắc trong luật hình sự ở thời kỳ tư sản thì có thể nhận thấy những nguyên tắc mà được giai cấp tư sản ghi nhận trong luật hình sự chỉ là những nguyên tắc có tính trung lập như nguyên tắc trách nhiệm cá nhân, nguyên tắc trách nhiệm lỗi, trách nhiệm dựa trên cơ sở lỗi. Pháp luật hình sự trong nhà nước tư sản không có các nguyên tắc mang tính chất bình đẳng vì bản chất của nhà nước tư sản là vì lợi ích chính trị và kinh tế của giai cấp tư sản nên họ luôn muốn củng cố quyền lực nhà nước tư sản. Những trào lưu triết học, đạo đức học, xã hội học và luật học trước chủ nghĩa Mác - Lênin và những lý luận không mácxít tiếp theo xem xét bình đẳng trong sự tách rời với cơ cấu kinh tế, xã hội, giai cấp của xã hội.
Những trào lưu và lý luận đó coi bình đẳng như một cái gì đó rất trìu tượng, hình dung nó như một cái đã được xác lập bằng sức mạnh có từ trước, là phạm trù trống rỗng mà có thể chất đầy bất cứ nội dung nào tùy theo ý muốn chủ quan có lợi cho những lợi ích giai cấp mà các trào lưu và học thuyết đó bảo vệ. Những trào lưu trên đưa ra những quan điểm và cách lý giả khác nhau về bình đẳng. Tuy khác nhau ở những quan điểm nhỏ nhặt nhưng chúng đều giống nhau ở điểm cơ bản là che đậy nguồn gốc hiện thực của các quan điểm về bình đẳng. Theo một số lý luận, quan niệm thì nguồn gốc của bình đẳng bị đưa ra khỏi phạm vi của xã hội, gắn với các thần linh, thượng đế, với sức mạnh vô hình nào đó, và theo một số khác thì các quan niệm về bình đẳng của một giai cấp được coi như là các quan niệm về bình đẳng của toàn xã hội.
Bình đẳng không chỉ là một phạm trù lịch sử cụ thể mà còn là một phạm trù mang tính giai cấp sâu sắc. Quan điểm giai cấp là một đòi hỏi quan trọng có tính nguyên tắc của việc phân tích khoa học khái niệm bình đẳng, vì rằng chỉ có cách tiếp cận khoa học đó mới đáp ứng được những điều kiện lịch sử hiện tại, mới có khả năng tách ra những mặt cơ bản của các khái niệm đó, chỉ rõ sự đối lập rất lớn của các kiểu quan niệm về bình đẳng trên thế giới hiện nay, thấy được sự khác biệt có tính nguyên tắc giữa nhận thức tiến bộ về 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bình đẳng và bình đẳng giả tạo. Mỗi giai cấp có một kiểu quan niệm của mình về bình đẳng dựa trên các nhu cầu về lợi ích phát triển của giai cấp đó. Nội dung giai cấp của quan niệm bình đẳng xuất phát từ địa vị các giai cấp trong sản xuất xã hội, vai trò của chúng trong phân phối, trong tổ chức lao động cũng như từ địa vị chính trị pháp lý của giai cấp đó [56, tr.
Các giai cấp thống trị bao giờ cũng cho là bình đẳng cái có lợi đối với lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội của họ và không bình đẳng cái mâu thuẫn với các lợi ích đó. Bởi vậy, một kiểu quan niệm về bình đẳng có liên quan rất chặt chẽ với một kiểu quan niệm về lợi ích. Kinh nghiệm lịch sử đã chỉ rõ rằng kiểu quan niệm về bình đẳng của những người chiếm hữu nô lệ mang tính giai cấp của giai cấp chiếm hữu nô lệ.