CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VA NHUNG VAN ĐÈ LII QUAN 1.1, CAC KHÁI NIỆM CƠ BẢN: CÂU, CÚ, PHAT NGON 1. Khái niệm câu Trong ngôn ngữ học truyền thống, câu được coi là đơn vị lớn nhất trong tô. chức của hệ thống ngôn ngữ.
Những đơn vị trên câu được coi là thuộc lĩnh vực lời nói và, theo quan niệm do F, de Saussure khởi xướng, không phải là đơn vị chân chính của ngôn ngữ học. Trong một thời gian dài, ngôn ngữ học chỉ quan tâm đến cấu trúc trừu tượng của câu, đến các mối quan hệ vả chức năng ngữ pháp của câu. "Theo đó, cầu trúc câu nghiêng vẻ hình thức, hay thuần túy hình thức, còn mặt ngữ nghĩa và những vấn để liên quan đến mặt ngữ dụng thì bị xem nhẹ hoặc bỏ qua. XXét tổ chức nôi bộ của câu thì “cá là một khúc đoạn ngôn ngữ tập trưng chung quanh một vị tổ và được ding dé diễn đạt một sự thẻ (hay sự việc) ” [6, tr.
`Vị tổ là trung tâm của câu về nghĩa và về cú pháp. Về nghĩa, vị tổ chỉ phối các thự thể tham gia vào sự việc (tham thể); về cú pháp, vị tố là cơ sở để xác định các bổ. Về từ loại, vị tố có thể là động từ, danh từ, tính từ, từ chỉ quan hệ. Trong phần vị ngữ của câu (vị ngữ hiểu theo truyền thống, bao gồm cả bổ ngữ), nếu có động từ tỉnh thái thì đông từ tình thái là yếu tố chính về cú pháp cụm từ, vị tổ vẫn giữ chức năng trung tâm của câu.
Kết hợp hai mặt xem xét trên, tác giả Diệp Quang Ban đã đưa ra định nghĩa về câu như sau; Cầu (câu đơn) là đơn vị lớn nhất của mặt cẫu trúc trong tổ chức ngữ pháp của một ngôn ngữ, được làm thành từ một khúc đoạn ngôn ngữ tập trưng chưng quanh một vị tổ, và được dùng để diễn đạt một sự thể (hay một sự việc) |6. Đơn vị tương đương câu đơn nằm bên trong câu phức và câu ghép sẽ được gọi là mệnh đề. Định nghĩa câu như trên không phân biệt ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết, không phân biệt ngôn ngữ thuộc các loại hình khác nhau. Định nghĩa này nói đến nghĩa chỉ sự.
, chưa tính đến các kiều nghĩa khác. Tác giả Cao Xuân Hạo cho rằng, cả ba bình diện lết ñọc, nghĩa học, dung học đều được thể hiện trong một câu, vì vậy, tác giả khẳng định: tấu là đơn vị cơ bản của lời nói, của ngôn từ, của văn bản. Nó là đơn vị nhỏ nhất có thể sử dụng vào việc giao tễ. Nói cách khác, câu là ngôn bản (văn bản) nhỏ nhất [20, tr.
Nhiều ul nhà nghiên cứu tiếng Việt đưa ngữ điệu vào việc định nghĩa câu và coi nó là một tiêu chuẩn để phân giới câu, tuy nhiên theo Cao Xuân Hạo, ngữ điệu chỉ là một hiện tượng ngoài ngôn ngữ thường đi kèm theo ngôn ngữ với tính cách một phương tiện hỗ trợ. Ngữ điệu không phải là một thuộc tính của câu nói mà là một nét đặc trưng cổ tính chất cử chỉ đệm theo hành động phát ngôn. Trong công trình gần đây nhất: Từ điển khái miệm ngôn ngữ học [1S], tác giả. "Nguyễn Thiện Giáp cũng định nghĩa: cấu 1d đơn vị cơ bản của lời nói, nó là đơn vị giao tiếp nhỏ nhát, là ngôn bản nhỏ nhất [18, tr83].
Như vậy, Nguyễn Thiện Giáp và Cao Xuân Hạo đều quan niệm câu là đơn vị cơ bản của lời nói, là sự thể hiện ngôn ngữ học của hành động nhận định được thực hiện ngay khi phát ra nó. Cao “Xuân Hạo coi CT Đ-T là CTCP cơ bản ci « Chúng tôi sử dụng định nghĩa trên về câu của Cao Xuân Hạo và Nguyễn Thiện Giáp làm cơ sở lí thuyết khảo sát câu. đơn trong truyện Nguyễn Nhật Ảnh. Khái niệm cú (tiếu cú) “Thuật ngữ “cú” trong tiếng Việt được địch từ thuật ngữ °lause” trong tiếng Anh.
Cũ được hiểu khác câu theo hai cách sau đây: ~ Theo cách giải thích của Halliday trong ngữ pháp chức năng — hệ thống, “cú” là tên gọi tương đương *c đơn” và dùng chung cho cả ngôn ngữ nói và viết, cầu là tên gọi thuộc ngôn ngữ viết với dấu hiệu là dấu chấm kết thúc câu (Dẫn theo [6, tr19). Mỗi cú được hiểu theo siêu chức năng mà nó diễn dat: là một thông di một lời trao đổi, sự biểu hiện (kinh nghiệm). Với mỗi chức năng như vây, cú có mot cấu trúc đặc thù. - Theo Trương Văn Chỉnh và Nguyễn Hiến Lê, "cú" là mệnh để trong ngôn ngữ, phân biệt với mệnh để trong logic học.
Về sau xuất hiện thêm một tên gọi tương tự, gọi là "tiểu cú” (Cao Xuân Hạo). Trong ngữ pháp hiện đại, có khi "cú” được coi là một đơn vị lớn hơn một ngữ (phrase) mà nhỏ hơn một câu và không nằm trọn trong khuôn hình truyền thống “chủ ngữ - vị ngữ”. Cho đến nay, cú được dùng thay cho câu đơn vì câu đơn gắn với chữ viết, với dấu chim câu và cần có một tên gọi đơn vị trong ngôn ngữ (clause) phan bigt vi ménh dé (proposition) của logic học. Ngoài ra, cũng cần nhớ.
rằng không phải nền ngữ pháp nào cũng có thuật ngữ tương đương với cú, thuật ngữ. 12 thịnh hành hơn là “mệnh để” ngằm hiều là “mệnh đề trong ngôn ngữ”. Khác với câu, cứ là đơn vị được tạo lập không phải dé thông báo mà là đẻ biểu hiện các sự tinh, gan với chức năng biểu hiện của ngôn ngữ. Xét về mặt chức.
năng, có (hể nói cú giống với ngữ hơn là với câu: câu có chức năng thông báo còn củ và ngữ chỉ có chức năng biễu hiện. Diễm khác biệt giữa cú và ngữchỉ là ở chỗ: cú biểu hiện các sự tình của thể giới ngoại ngôn và cấu trúc hóa nó trong câu trúc nghĩa biểu hiện với vị tổ trung tâm và các tham thé theo cách trí nhận của người ban ngữ, còn ngữ chỉ biểu hiện các phân đoạn của sự tinh với tư cách là thành tổ (vị tố và các tham thé) cia CT NBH. Dé chin Ia lí do vì sao một số tác giả (như Lưu Vân Lang, Cao Xuân Hạo) cho rằng cú không có được chức năng thông báo hay phản ánh một nhân định đầy đủ như câu. Trong luận văn, chúng tôi sử dụng thuật ngữ cứ” (của một số tác giả khác) là "tiễu cú” (của Cao Xuân Hạo).
Theo đó, tiểu cú có cấu trúc như của câu nhưng lại chỉ là một ngữ doan. Tiểu củ khác câu chỉnh là ở chỗ nó không phản ánh một hành động nhận định (statemtem), được thực hiện ngay khí phát ngôn đẻ đưa ra một mệnh đẻ, mà biêu thị một cái gì được coi như “có sẵn” [20, tr.45], mỗi tiểu cú ứng với một bậc để - thuyết của CT D-T 1. Khái niệm phát ngôn Hiện nay, theo lí thuyết ba bình diện của tín hiệu ngôn ngữ nói chung và của nghĩa và bình diện ngữ dụng. hiện mồi tương quan giữa một đơn vị trừu tượng, ở trạng thái tĩnh, trạng thái chưa hành chức, chưa tham gia vào hoạt động giao tiếp, với sản phẩm của sự.
hiện thực hóa chính nó trong hoạt động giao tiếp. Mỗi tương quan đó như là tương cquan giữa một hẳng thể và một biến thé, Từ đó xuất hiện thuật ngữ phát ngón. Theo 7ừ điển thuật ngữ ngôn ngữ học [56]. phát ngôn trong ngôn ngữ học là một khúc đoạn lời nói (hay viết) do một người nói đơn nhất tạo ra và có chỗ lặng ở.
cuối phần lời của người đó, cụ thể là một trường hợp thực hiện việc nói (hay viết) trai dai trong thời gian và thường được dùng làm tài liệu của phân tích diễn ngôn, phân tích việc sử dụng ngôn ngữ, không dùng đễ phân tích hệ thống ngôn ngữ. Phát ngôn trong ngôn ngữ tự nhiên không chỉ là chuỗi dạng thức của từ. Chồng lên cái thành tố ngôn từ của bắt kỳ phát ngôn nói nào (chuỗi các từ tạo nên nó), bao giờ và tất yếu cũng có thành tố cận ngôn ngữ như: các yếu tố xen ngôn 13 thanh: Hắng giọng, âm ừ, à. Đó là chưa kể các yếu tố ngoài ngôn ngữ như: ngón ngữ dhân thé (eit chỉ, tư thể, hành vĩ động cham.); ngdn ngữ vật thể (trang phục, đỗ trang sức, phụ kiện, hoa, quả tặng.); ngồn ngữ mới trường (địa điểm, thời gian, khoảng cách, màu sắc.) cũng ảnh hưởng đến việc lĩnh hội phát ngôn.
Trong việc xác định nghĩa của phát ngôn, những đặc trưng phi ngôn từ này cũng quan yếu như nghĩa của các từ được ding trong phát ngôn và ngữ pháp. của nó, cả hai đều được mã hóa trong thành tổ ngôn từ của phát ngôn Mối tương quan giữa câu và phát ngôn được xác định qua các phương diện sau: - Câu thuộc hệ thống cấu trúc của ngôn ngữ, còn phát ngôn thuộc hoạt động "hành chức của ngôn ngữ, chủ yếu là hoạt động giao tip. ~ Câu là đơn vị thiên về hình thức cấu trúc nên mang đặc tính trừu tượng, khái quát, có thể tồn tại ở hoạt động giao tiếp. Còn phát ngôn là sự hiện thực hóa cụ thể của câu nên ngoài phần »u trúc trừu tượng còn có: ình thức cụ thể (hật tự từ ngữ, ngữ điệu.); nội dung ý nghĩa cụ thể (nghĩa biểu hiện, nghĩa tình thái); mục đích giao tiếp.
Câu được mô hình hóa theo một số kiểu loại nhất định, do đó số lượng kiểu câu trong một ngôn ngữ là hữu hạn, trong khi số lượng phát ngôn là vô hạn. Như vậy, câu và phát ngôn vừa có mỗi liên hệ mật thiết, vừa có sự khác biệt. 'Câu chính là cơ sở để tạo nên phát ngôn, phát ngôn là sự hiện thực hóa, tỉnh thái hóa a câu. GIL THUY: VE Li THUYET BA BINH DIEN TRONG NGHIÊN CUU CAU TIENG VI 1.
Bối cảnh ra đời a. Thanh teu va han chế của ngữ pháp hình thức, cầu trúc Vẻ thành tựu, đối với người Việt, chủ ngữ và vị ngữ là những khái niệm hết sức quen thuộc. Đây lại là phương pháp ra đời sóm, được nghiên cứu nhiều, nên hệ thống lí thuyết tương đối sáng rõ. Các thành tố cấu tạo nên câu được phân.
hết ti mi và cạn kiệt. Không có bắt kỳ một từ nào trong câu không được làm 15, dit đó là thực từ hay hư từ. Quan hệ giữa các từ trong cụm từ, quan hệ giữa các cụm từ với nhau luôn được thể hiện rõ rằng. Chức năng của các thành phần câu được phản.
ánh một cách rất cu thé. Nếu dạy cho học sinh phân tích câu theo cách này, người học dễ ding xây dựng những câu đúng ngữ pháp, chuẩn mực. 4 'Về hạn chế, ngữ pháp hình thức, cấu trúc không quan tâm đến nghĩa và càng. không quan tâm đến tác dụng giao tiếp.