Chương 1 - TỔNG QUAN 1. Khái quát về vùng cửa sông - ven biển 1. Các khái niệm Cửa sông (estuary) theo nghĩa La tinh, bao hàm “aestus” là thủy triều, còn “estuary” là từ chỉ một dạng của lục địa, trong đó thủy triều đóng vai trò quan trọng trong đời sống và sự phát triển tiến hóa của vùng. Bởi vậy, trong các từ điển người ta giải thích “cửa sông là cửa các con sông lớn có thủy triều” (từ điển Oxford) hoặc “một vùng gần bờ được khống chế bởi nước biển khi triều cao, một vùng biển được tạo thành bởi cửa một con sông” (Larouse) [26].
Theo quan điểm của các nhà địa mạo thì cửa sông là cửa của con sông mà ở đó đang có quá trình sụt lún kiến tạo không được đền bù hoặc là một thung lũng sông bị chìm ngập do mực nước biển dâng lên, thường có dạng hình phễu. Những định nghĩa dựa trên các quan điểm riêng về địa mạo, địa chất, khí hậu… thường loại bỏ nhiều nguyên tắc và các khuynh hướng thực dụng trong nghiên cứu khoa học ở các nước và các khu vực khác nhau trên thế giới [26]. Theo quan điểm động lực, D. Pritchard (1967) cho rằng “Cửa sông là một thủy vực ven bờ nửa khép kín, liên hệ trực tiếp với biển và ở trong đó, nước biển hòa trộn có mức độ với nước ngọt đổ ra từ các dòng lục địa”.
Tuy nhiên, theo định nghĩa này, các hệ cửa sông mù (blind estuary) và các cửa sông quá mặn (hyperhaline) bị loại trừ. Day (1981) đã bổ sung và đề xuất một định nghĩa có nội dung rộng hơn: “Cửa sông là thủy vực ven bờ nửa khép kín về mặt không gian, liên hệ trực tiếp với biển một cách thường xuyên hay theo chu kỳ, trong đó độ muối biển đổi do sự hòa trộn có mức độ của nước biển với nước ngọt đổ ra từ các dòng lục địa”. Như vậy, vùng cửa sông là nơi tranh chấp mãnh liệt giữa đất liền và biển, ở đó luôn xảy ra hai quá trình trái ngược nhau là bồi tụ và bào mòn. Hai quá trình này xảy ra phụ thuộc vào các yếu tố động lực của dòng sông và dòng biển (sóng, thủy triều, hải lưu) 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và các quá trình địa chất.
Vùng cửa sông không chỉ là nơi nước ngọt và nước mặn pha trộn với nhau đơn thuần mà tại đây có sự chuyển đổi tính chất của nước, từ ngọt sang mặn. Chính vì vậy vùng cửa sông là vùng chuyển tiếp từ chế độ thủy văn sông sang chế độ thủy văn biển [26]. Hệ sinh thái điển hình của vùng cửa sông ven biển bao gồm các thành phần như vùng châu thổ (delta), vùng đồng bằng ven biển, các vùng đất ngập nước, các bãi biển và cồn cát, các rạn san hô, các vùng rừng ngập mặn (rừng sác), đầm phá (lagoon), và các đặc trưng ven bờ khác. Chính những khu hệ khác nhau này cùng sự pha trộn giữa môi trường nước biển và nước ngọt đã tạo ra nguồn lợi thủy sản vô cùng đa dạng và phong phú.
Hệ thống cửa sông - ven biển Việt Nam Việt Nam với 3.260 km đường bờ biển trải dài trên 13 vĩ độ, qua 28 tỉnh và thành phố dọc bờ biển có 114 cửa sông, cửa lạch đổ ra biển, theo tỷ lệ như sau: Bắc Bộ 28,1%, Bắc Trung Bộ 21,1%, Nam Trung Bộ 27,2% và Nam Bộ 28,6% (Bảng 1). Tính trung bình cho toàn dải ven biển thì cứ 28,6 km đường bờ biển lại có một cửa sông đổ ra biển. Số lượng và khoảng cách phân bố của hệ thống cửa sông [10] Tỷ lệ (%) số Chiều dài Khoảng cách trung Số lượng Tên lượng cửa sông đường bờ bình của các cửa STT cửa sông vùng của các vùng so của các vùng sông trên đường đổ ra biển với toàn đới bờ (km) bờ (km) Bắc 1 32 28,1 515 16,1 Bộ Bắc 2 Trung 24 21,1 642 26,7 Bộ Nam 3 Trung 31 27,2 1290 41,6 Bộ Nam 4 27 23,6 828 30,6 Bộ Tổng 114 100 3260 28,8 (trung bình) 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo độ lớn của các lưu vực sông có thể phân các cửa sông ra làm các loại sau: cửa sông có lưu vực rất lớn (>50.000km2) thuộc hệ thống sông Hồng và hệ thống sông Cửu Long; cửa sông có lưu vực lớn (từ 10.000km2) thuộc các hệ thống sông: Thái Bình, Đồng Nai, sông Mã, Thu Bồn, Đà Rằng; cửa sông có lưu vực trung bình (1.000km2) gồm cửa các sông: Lạch Ghép, Gianh, Nhật Lệ, Cửa Việt, Thuận An, Cổ Luỹ, Cửa Lở, sông Kôn, Cái (Nha Trang), Cái (Phan Rang), Lũy, Cái (Phan Thiết),…; cửa sông có lưu vực nhỏ (<1000km2) có số lượng lớn. Theo lịch sử hình thành, hình thái cấu tạo và lực tương tác sông biển thì các hệ cửa sông nước ta được chia thành các kiểu hệ: các cửa sông châu thổ như hệ cửa sông Hồng và sông Cửu Long; các cửa sông hình phễu như các cửa sông vùng Hải Phòng - Quảng Yên, Đồng Nai; các đầm phá ven biển và các vùng vịnh nông ven bờ nhận một lượng nước ngọt do các sông đổ ra [20].
Sóng ở vùng cửa sông phụ thuộc chủ yếu vào chế độ gió của hai mùa chính (mùa Đông và mùa Hè) và kết hợp với địa hình tạo ra hướng và độ cao sóng khác nhau: về mùa Đông, hướng thay đổi Đông bắc, Đông, Bắc, độ cao sóng trung bình 0,5 - 1,0m; về mùa Hạ, sóng có hướng Nam, Đông Nam, Tây Nam, Tây với độ cao 0,5 - 1,25m. Phân bố dọc theo bờ biển chiều dài đường bờ biển các cửa sông thuộc đủ các chế độ thuỷ triều như nhật triều, nhật triều không đều, bán nhật triều và bán nhật triều không đều, phân bố xen kẽ, kế tiếp nhau: các cửa sông Bắc Bộ và Thanh Hóa thuộc nhật triều, vùng Thuận An - bán nhật triều; các cửa sông có chế độ nhật triều không đều phân bố từ Nghệ An đến Cửa Gianh, từ Quảng Nam tới Bình Thuận, và từ Cà Mau tới Kiên Giang; chế độ bán nhật triều không đều thuộc các cửa sông vùng từ Cửa Gianh đến Bắc Thuận An, từ Nam Thuận An đến Quảng Nam, và Hàm Tân đến Cà Mau [2]. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Khái quát đa dạng sinh học và thành phần loài cá vùng cửa sông - ven biển Việt Nam Vùng cửa sông - ven biển là hệ sinh thái độc đáo và phức tạp nhưng giàu có về tài nguyên thiên nhiên, là bãi đẻ của nhiều loài động vật, là nơi ở vào giai đoạn sớm của nhiều loài giáp xác và cá biển.
Ở vùng ven biển đã xác định được khoảng 94 loài thực vật ngập mặn, 346 loài san hô, 794 loài cá biển, 639 loài rong và cỏ biển, 4971 loài động vật đáy… [11,13]. Vùng cửa sông - ven biển là nơi có điều kiện sống đặc trưng tạo nên nhiều đặc sản như tôm, cua, sò, rong câu… Nhiều loài là mặt hàng có giá trị kinh tế, làm thực phẩm, làm cảnh… được tiêu thụ trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài. Trong số đó cá, giáp xác, thân mềm và rong biển là những đối tượng có sản lượng lớn và đang được khai thác. Cá ở vùng biển nông chiếm tới 80 - 90% tổng sản lượng cá khai thác được.
Riêng tôm, năm 1995 sản lượng là 19.000 tấn, cua ghẹ chiếm trên 3% tổng sản lượng hải sản khai thác [11]. Theo Vũ Trung Tạng (2009), khu hệ cá của các cửa sông riêng biệt không đa dạng so với những vùng biển kế cận của chúng, dao động từ 70 đến 230 loài. Khu hệ cá toàn cửa sông dọc bờ biển nước ta là 615 loài, 120 họ, thuộc 29 bộ. Trong đó có 5 bộ cá sụn (Chondrichthyes) với 11 họ và 26 loài, còn lại là đại diện của các nhóm cá xương, trong đó có trên 50 loài chưa xác định được tên khoa học, còn để ở dạng sp.
Bộ cá lớn nhất trong khu vực là cá Vược (Perciformes), gồm 53 họ và 339 loài chiếm 44,17% số lượng họ và 55,12% số lượng loài. Theo số lượng họ, bộ đứng sau đó lần lượt là Anguilliformes, Scorpaeniformes, Pleuronectiformes, nhưng giàu loài nhất sau bộ cá Vược là Clupeiformes, Pleuronectiformes, Anguilliformes, Tetraodontiformes, Cypriniformes, Siluriformes, Scorpaeniformes. Các bộ chỉ có 1 họ và 1 loài không nhiều, gồm bộ Lamniformes, Albuliformes, Gonorhynchiformes, Osteoglossiformes, Cyprinodontiformes, Beryciformes, Lophiformes, Zeiformes và Gasterosteiformes. Những họ giàu loài nhất, từ 47 đến 19 loài theo thứ tự từ cao tới 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thấp như sau: Gobiidae (47 loài), Carangidae, Sciaenidae, Serranidae, Cyprinidae, Tetraodontidae, Cynoglossidae, Clupeidae và Engraulidae (19 loài).
Những họ có 10 loài trở lên đóng góp 326 loài, chiếm gần 52% tổng số loài. Trong thành phần khu hệ cá có khoảng 42 họ chỉ có 1 loài, chiếm 35% tổng số họ và 6,8% tổng số loài [11]. Vùng cửa sông - ven biển là hệ sinh thái độc đáo và phức tạp nhưng giàu có về tài nguyên thiên nhiên, là bãi đẻ của nhiều loài động vật, là nơi ở vào giai đoạn sớm của nhiều giáp xác và cá biển. Ở vùng ven biển đã xác định được khoảng 94 loài thực vật ngập mặn, 346 loài san hô, 794 loài cá biển, 639 loài rong và cỏ biển, 4.971 loài động vật đáy… [11, 13].
Lịch sử nghiên cứu hệ sinh thái cửa sông - ven biển Việt Nam * Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám Những nghiên cứu trong giai đoạn này đều do các tác giả nước ngoài, được tiến hành trong phạm vi rộng trên thềm lục địa Biển Đông và các biển kế cận về các lĩnh vực khoa học cơ bản như địa chất, hải dương, khí tượng - thủy văn, các quá trình động lực biển, nhất là sự trao đổi nước giữa biển Đông với Thái Bình Dương. Các nghiên cứu về thủy sinh vật và nghề cá cũng được coi trọng nhằm tạo cơ sở cho việc đánh giá tài nguyên, phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa [22]. * Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay Sau Cách mạng tháng Tám, đặc biệt là sau khi miền Bắc được giải phóng, các hoạt động nghiên cứu khoa học được chuyển dần sang các nhà khoa học trong nước. Nhiều công trình nghiên cứu lớn được ra đời như: chương trình Thuận Hải Minh Hải, các đề tài thuộc chương trình 52.02, các chương trình Biển và các chương trình nghiên cứu Khoa học cơ bản qua các giai đoạn như 48.06, 48B, KT-03, KHCN-06, … Viện Nghiên cứu biển Hải Phòng vào những năm chiến tranh chống Mỹ (1972) đã tiến hành điều tra thành phần các loài thực vật nổi và động vật nổi ở vùng của sông 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thuộc hệ thống sông Hồng: cửa Ba Lạt, cửa Ninh Cơ và cửa Đáy (Trương Ngọc An và Hàn Ngọc Lương, 1980; Nguyễn Văn Khôi và Dương Thị Thơm, 1980; Nguyễn Văn Chung và nnk.