CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BÀI TOÁN NGĂN CHẶN THÔNG TIN SAI LỆCH TRÊN MẠNG XÃ HỘI TRỰC TUYẾN 1. Giới thiệu về mạng xã hội trực tuyến Mạng xã hội trực tuyến là một hệ thống thông tin cung cấp cho người sử dụng mạng internet các dịch vụ lưu trữ, tìm kiếm, chia sẻ, sử dụng và trao đổi thông tin với nhau, bao gồm dịch vụ tạo trang thông tin điện tử cá nhân, diễn đàn (forum), nhóm cùng sở thích (group), trò chuyện trực tuyến (chat), chia sẻ âm thanh, hình ảnh, biểu thị cảm xúc và các hình thức dịch vụ tương tự khác. Ví dụ MXH Facebook cho phép người dụng tạo trang cá nhân, tạo group, tạo Fanpage, cho phép chia sẻ thông tin qua việc đăng bài lên trang cá nhân, group, fanpage và chi sẻ đến những người bạn khác, vv. Các thành phần cơ bản của MXH Một MXH thường được cấu thành từ 04 thành phần cơ bản sau đây: - Người dùng: Là một thực thể trên MXH, thực thể này có thể là một cá nhân, một doanh nghiệp hoặc một tổ chức bất kỳ nào đó, gọi chung là người dùng hay cư dân mạng.
Ví dụ đối với Facebook.com người dùng được thể hiện là một tài khoản cá nhân hoặc một nhóm cùng sở thích (group) hoặc một trang người hâm mộ (fanpage), vv… - Liên kết: Là thể hiện mối quan hệ và sự ảnh hưởng giữa những người dùng trên cùng MXH. Khái niệm liên kết trong các MXH là khác nhau. Ví dụ đối với Facebook.me thì liên kết tương ứng với quan hệ bạn bè, với Instagram.com liên kết tương ứng với chức năng “theo dõi”, vv. - Thông tin: Trên MXH người dùng chủ động tạo nội dung thông tin và chia sẻ nội dung này đến các thành viên khác theo nhiều hình thức khác nhau.
Thông tin có thể là: đoạn tin ngắn (blog), bài viết, hình ảnh, âm thanh, video, vv. có nội n 5 dung thuộc nhiều chủ đề riêng biệt hoặc lẫn lộn. Ví dụ bài viết về chủ đề thể thao hoặc bài viết về cả kinh tế và chính trị, vv. - Tương tác: Tương tác giúp MXH trở thành một khối vận động không ngừng, giúp người dùng tạo mối quan hệ qua lại và hiểu biết lẫn nhau.
Khái niệm tương tác được hiểu là phản hồi của người dùng đối với các thông tin của người dùng khác, điều này được thể hiện thông qua việc đăng bài, chia sẻ, bình luận, theo dõi, vv… 1. Một số đặc trưng cơ bản của MXH - Đặc trưng thế giới nhỏ: Năm 1967, Stanley Milgram thực hiện thí nghiệm thế giới nhỏ (Small World) đã cho thấy khoảng cách giữa hai người dùng trung bình để kết nối bất kỳ là 5.0 người khác (bước) [1]. Sau đó, một số nghiên cứu khác đã chứng minh được hầu hết các MXH nỏ đúng với ”thế giớ nhỏ”. Năm 2008 thì khoảng cách trung bình của mạng Facebook là 5.28, đến năm 2011 khoảng cách còn 4.
Như vậy, để hai người bất kỳ trên thế giới quen nhau trên MXH thì qua nhiều nhất là 06 người khác. - Đặc trưng tập nhân: Một số người dung quan trọng có sức ảnh hưởng lớn tới cấu trúc và sự vận động của mọi MXH. Những người dùng này thường có bậc cao, được gọi là nút trung tâm hay nút nhân [2], “bậc” ở đây được hiểu là số nút khác có liên kết với người dùng đó. Một hệ thống phân cấp sẽ được cấu tạo bởi các MXH chứa một lượng lớn những nút có bậc cao, bao quanh các nút này là các nút có bậc thấp hơn, và quanh những nút có bậc thấp hơn lại là các nút có bậc thấp hơn chúng.
Việc kết nối luồng thông tin của toàn mạng là phụ thuộc vào các nút nhân. Khi các mạng phân chia thành nhiều các nhóm lô lập nhau thì lý do đó thường là đưa một nút thuộc tập nhân ra khỏi mạng và một nút mới vào mạng thường có xu hướng kết nối đến những nút có bậc cao. Điều này giải thích tại sao người nổi tiếng thường được mời làm quảng cáo cho các sản phẩm và người nổi tiếng cũng có thể bị lợi dụng để phát tán TTSL, vv… n 6 - Đặc trưng cấu trúc cộng đồng: Tương tự như trong thực tế, luôn có nhiều nhóm không tương đồng nhau, ví dụ như nhóm đồng nghiệp có cùng sở thích đi du lịch, nhóm những nhà khoa học chuyên nghiên cứu về MXH, các câu lạc bộ văn hóa, thể thao vv… Tương tự vậy MXH cũng có nhiều nhóm như thế, có tên gọi những cộng đồng trực tuyến. Trong MXH thì có rất nhiều, đa dạng các cộng đồng lớn, nhỏ, những cộng đồng nhỏ nằm trong cộng đồng lớn.
Mật độ kết nối giữa các nút trong cộng đồng là rất lớn còn hơn cả những nút bên ngoài. Một người dùng có thể thuộc một cồng đồng duy nhất hoặc một, nhiều cộng đồng khác nhau. - Đặc trưng phân bố lũy thừa: Xác xuất của một nút có bậc là k được tính bởi phân bố bậc của các nút trong mạng được mô tả bởi hàm 𝑃(𝑘), Hàm 𝑃(𝑘) = 1 , với 𝑘 lớn và 𝛼 > 1 xác định được là phân bố bậc của một mạng theo lũy thừa 𝑘𝛼 nếu xác suất một nút có bậc là 𝑘. Phân bố bậc lũy thừa [3] là hiện nay hầu hết các MXH đều có phân bố bậc lũy thừa như thế.
Biểu diễn MXH bằng đồ thị Gọi đồ thị 𝐺(𝑉, 𝐸, 𝑤) là đồ thị biểu diễn cho một MXH, trong đó 𝑉 là tập đỉnh, 𝐸 là tập cạnh, 𝑤 là tập trọng số của các cạnh. Đồ thị 𝐺 được xác định là đồ thị có hướng vì mối quan hệ trên mạng đôi khi không đồng nhất giữa chiều đi và chiều về, có những mỗi quan hệ chỉ ảnh hưởng một chiều còn nhiều ngược lại ảnh hưởng không đáng kể. Mỗi nút 𝑣 ∈ 𝑉 là đại diện cho một người dùng, các cạnh {(𝑢, 𝑣), (𝑣, 𝑢)} ∈ 𝐸 đại diện cho mối quan hệ từ 𝑢 đến 𝑣 và ngược lại. Trọng số 𝑤(𝑢, 𝑣) biểu diễn cho mức độ ảnh hưởng của 𝑢 đến 𝑣, nếu 𝑤(𝑢, 𝑣) ∉ 𝐸 thì 𝑤(𝑢, 𝑣) = 0; 𝑤(𝑢, 𝑣) này càng lớn thì 𝑣 chịu chi phối bởi 𝑢 càng nhiều.
Thông tin được lan truyền từ nút này sang nút khác thông qua các cạnh, 𝑤(𝑢, 𝑣) có ảnh hưởng đáng kể trong việc thông tin lan truyền từ 𝑢 có thể đến được 𝑣 hay không?. Tùy vào từng cấu trúc của MXH mà đồ thì có những tham số khác nhau. Đồ thị thường được lưu dưới dạng danh sách cạnh, ma trận trọng số. Lợi ích của MXH - Cập nhật tin tức: Với tốc độ lan truyền thông tin nhanh chóng, MXH giúp người dùng cập nhật thông tin kịp thời và thuận tiện.
Dưới góc độ dữ liệu, MXH là một kho dữ liệu khổng lồ, trên đó có rất nhiều tài nguyên và tri thức thuộc mọi lĩnh vực của xã hội mà mọi người dùng đều được quyền khai thác. Kho tri thức này ngày một rộng lớn hơn và phản ánh kịp thời sự phát triển không ngừng của xã hội thông qua việc cập nhật thông tin hàng ngày của người dùng. - Kết nối và tìm kiếm các mối quan hệ: Đặc trưng chính của MXH đó chính là kết nối cộng đồng, tạo lập các mối quan hệ và duy trì các mối quan hệ đó. Đặc biệt trong đại dịch Covid-19, các mối quan hệ trên MXH càng trở nên cần thiết hơn khi mà con người hạn chế tiếp xúc trực tiếp với nhau.
- Kinh doanh và quảng bá thương hiệu: Với số lượng người dùng lớn, các MXH là môi trường kinh doanh và quảng bá thương hiệu nhanh và hiệu quả hơn bất kỳ nền tảng nào. Các nhà kinh doanh có thể sử dụng MXH để thăm dò ý kiến khách hàng, khảo sát thị trường, trao đổi với đối tác, vv…MXH cũng cho phép xây dựng các cộng đồng khách hàng, các nhóm cùng sở thích dùng cùng sản phẩm, vv… 1. Tác hại của MXH - Lan truyền TTSL: Một trong những tác hại lớn nhất của MXH đó là sự lan truyền nhanh chóng TTSL bất chấp sự kiểm soát của các nhà mạng và cơ quan Chính phủ. TTSL có thể đơn giản chỉ là một tin giật gân để gây sự chú ý, một quảng cáo bán sản phẩm có chất lượng kém hơn thực tế, nặng hơn có thể là những thông tin mang tính bịa đặt, vu khống làm giảm uy tín của các tổ chức, cá nhân, thậm chí có thể gây ra những thiệt hại về kinh tế, chính trị hoặc gây hoang mang dư luận [4], [5] [6] [7].
n 8 - Lừa đảo và thư rác: Các tài khoản MXH có thể bị mạo danh để lừa đảo chiếm dụng tài sản hoặc để đánh cắp thông tin cá nhân. Ngoài ra, người dùng MXH có thể gặp phải những bất tiện và rủi ro khác như: thường xuyên nhận được tin nhắn rác, thư rác, lời mời quảng cáo, thậm chí có thể bắt nạt trên mạng, lây nhiễm mã độc và nặng hơn là lợi dụng tài khoản cá nhân để phục vụ cho các mục đích xấu, vv. Mô hình và bài toán ngăn chặn ảnh hưởng thông tin sai lệch 1. Các mô hình và cơ chế lan truyền thông tin trên mạng xã hội Hầu hết MXH, các hoạt động tương tác như là: chia sẻ, đăng tin, đăng bài, biểu lộ cảm súc, bình luận, vv… các hoạt động này gián tiếp lan truyền thông tin giữa mọi người trong MXH.
Khác hẳn với LTTT truyển thống, quá trình lan truyền này quy mô và mức lan truyền rất lớn, nhanh chóng. Để con người có thể quản trị, điều hành, điều khiển các thông tin này có tính hữu ích cao nhất thì cần phải nắm và hiểu rõ quá trình này trên MXH. Để đạt được mục đích đó, quá trình LTTT phải được mô tả một cách ngắn gọn dễ nhận biết bằng mô hình lan truyền thông tin (information diffusion models). Theo khảo sát của Domingo và Richardson [6] về lan truyền tiếp thị sản phẩm giữa các người dùng, D.
Kempe và một số cộng sự đưa ra được lần đầu tiên về hai mô hình lan truyền thông tin: 1) Mô hình Ngưỡng tuyến tính (LT – Linear threshold) và mô hình Bậc độc lập (IC – Independent Cascade) để giải quyết bài toán tối ưu hóa ảnh hưởng [8]. Kể từ khi được đưa ra, chúng được xem là mô hình LTTT phổ biến, cơ bản nhất [9], [10].