ĐẶT VẤN ĐỀ Khu rừng Lịch sử, văn hoá, môi trƣờng Hồ Lăk có tổng diện tích 16.772 ha, nằm trọn trong địa bàn huyện Lăk. Ở đây có hệ động thực vật vô cùng phong phú, với nhiều loài quí hiếm đã đƣợc ghi trong sách đỏ. Ngoài ra, đây còn là một cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp. Nơi đây xƣa kia từng là điểm dừng chân săn bắn của vua Bảo Đại và nay là điểm du lịch sinh thái lý tƣởng của tỉnh Đắk Lắk nói riêng và cả nƣớc nói chung.
Rừng Hồ Lăk không những giàu về đa dạng sinh học, đẹp về cảnh quan mà còn có tác dụng phòng hộ rất lớn, bảo vệ Hồ Lăk tự nhiên lớn nhất nƣớc, bảo vệ cánh đồng hàng nghìn ha của đồng bào tại chỗ. Trong những năm qua Khu rừng Lịch sử, văn hoá, môi trƣờng Hồ Lăk đã tổ chức khoán bảo vệ rừng đến ngƣời dân tại chỗ với diện tích 7.595,7ha, nhƣng hiện tƣợng phá rừng làm rẫy, phát triển không có kế hoạch các loài cây cà phê, điều, và nhiều cây công nghiệp ngắn ngày khác, sự săn bắn và khai thác gỗ trái phép mỗi ngày một gia tăng đã làm cho rừng tự nhiên của khu rừng lịch sử,văn hoá, môi trƣờng Hồ Lăk suy giảm cả về diện tích và chất lƣợng. Mất rừng chẳng những làm giảm tính đa dạng sinh học của rừng, mà còn làm suy thoái điều kiện sinh thái ảnh hƣởng cuộc sống lâu dài của ngƣời dân địa phƣơng. Thực tế ấy đã đặt ra một nhiệm vụ cấp bách là phải nghiên cứu để tìm ra giải pháp quản lý bảo vệ rừng nhằm quản lý rừng tại khu rừng lịch sử,văn hoá, môi trƣờng Hồ Lăk hiệu quả, góp phần nâng cao đời sống cho ngƣời dân địa phƣơng, phục vụ cho sự phát triển kinh tế trƣớc mắt cũng nhƣ lâu dài.
Do đó, để góp phần bổ sung và hoàn thiện những cơ sở lý luận và tìm ra giải pháp quản lý rừng bền vững trên một địa bàn cụ thể, trong khuôn khổ một luận văn tốt nghiệp cao học, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Nghiên cứu một số giải pháp để quản lý bền vững rừng tại khu rừng lịch sử, văn hoá, môi trường Hồ Lăk, thuộc huyện Lăk - tỉnh Đắk Lắk”. 2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. QUAN NIỆM VỀ QUẢN LÝ RỪNG BỀN VỮNG Trƣớc đây rừng tự nhiên bao trùm phần lớn diện tích mặt đất.Tuy nhiên, do những tác động của con ngƣời nhƣ khai thác lâm sản quá mức, phá rừng lấy đất trồng trọt, đất chăn thả gia súc, xây dựng các khu công nghiệp, mở rộng các điểm dân cƣ. đã làm cho rừng thu hẹp dần về diện tích.
Tỷ lệ che phủ của rừng tự nhiên giảm đi mỗi ngày một nhanh. Rừng tự nhiên không chỉ bị thu hẹp về diện tích mà còn giảm về chất lƣợng. Sự suy giảm diện tích và chất lƣợng của rừng tự nhiên chẳng những đã làm xuống cấp nguồn tài nguyên có khả năng cung cấp liên tục những sản phẩm đa dạng cho cuộc sống con ngƣời, mà còn kéo theo những biến đổi nguy hiểm của điều kiện sinh thái trên hành tinh. Hậu quả quan trọng nhất của mất rừng trong thế kỷ qua là làm cho khí hậu biến đổi, nguồn nƣớc không ổn định, đất đai bị hoang hoá, quy mô và cƣờng độ của những thiên tai nhƣ gió bão, hạn hán, lũ lụt, sạt lở đất, cháy rừng ngày một gia tăng.
Sự mất rừng đã trở thành nguyên nhân trực tiếp của sự đói nghèo ở nhiều quốc gia, là nguyên nhân của hiểm hoạ sinh thái, đe doạ sự tồn tại lâu bền của con ngƣời và thiên nhiên trên toàn thế giới. Trƣớc tình hình đó một yêu cầu cấp bách đặt ra là phải quản lý rừng nhƣ thế nào để ngăn chặn đƣợc tình trạng mất rừng, quản lý mà trong đó việc khai thác những giá trị kinh tế của rừng không mâu thuẫn với việc duy trì diện tích và chất lƣợng của nó, duy trì và phát huy những chức năng sinh thái to lớn với sự tồn tại lâu bền của con ngƣời và thiên nhiên. Đây cũng là xuất phát điểm của những ý tƣởng quản lý rừng bền vững - quản lý rừng nhằm phát huy đồng thời những giá trị về kinh tế, xã hội và môi trƣờng của rừng. Mặc dù nội dung của quản lý rừng bền vững rất phong phú và đa dạng với những khác biệt nhất 3 định phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng địa phƣơng, từng quốc gia, song ngƣời ta cũng cố gắng đƣa ra những khái niệm để diễn đạt bản chất của nó.
-Theo Tổ Chức Gỗ Nhiệt đới (ITTO) thì “Quản lý rừng bền vững là quá trình quản lý đất rừng cố định để đạt được một hoặc nhiều mục tiêu được xác định rõ ràng của công tác quản lý trong vấn đề sản xuất liên tục các lâm sản và dịch vụ rừng mà không làm giảm đi đáng kể những giá trị vốn có và khả năng sản xuất sau này của rừng và không gây ra những ảnh hưởng tiêu cực thái quá đến môi trường và xã hội". - Tiến trình Helsinki thì “ Quản lý rừng bền vững là sự quản lý rừng và đất rừng theo cách thức và mức độ phù hợp để duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất, khả năng tái sinh, sức sống của rừng và duy trì tiềm năng của rừng trong việc thực hiện - hiện tại và trong tương lai - các chức năng sinh thái, kinh tế và xã hội của chúng, ở cấp địa phương, quốc gia và toàn cầu, và không gây ra những tác hại đối với các hệ sinh thái khác”. Phần lớn các định nghĩa về QLRBV đƣợc xuất phát từ quan điểm sản xuất hàng hóa hoặc phát triển ngành lâm nghiệp. Tuy nhiên trong các cuộc thảo luận ở quy mô quốc tế thƣờng có nhất trí cao rằng : QLRBV là sự quản lý (William E Mankin, 1998): - Duy trì đƣợc rừng và các chức năng, các quá trình và cấu trúc sinh thái của chúng trong điều kiện lành mạnh và bền vững; - Không làm thoái hóa đất và chất lƣợng nguồn nƣớc; - Không tạo ra các hậu quả không thể đảo ngƣợc hoặc giảm đa dạng sinh học (ĐDSH) bao gồm nguồn gen, loài, các hệ sinh thái và các kiểu rừng (đặt biệt là sự tuyệt chủng); - Áp dụng cho tổng thể rừng nhƣ là một thực thể sinh thái tổng hợp chứ không phải cho một thành phần hay một sản phẩm riêng biệt của rừng; - Có thể chủ động hay thụ động và không đòi hỏi nhất thiết phải khai thác một sản phẩm cụ thể nào của rừng; 4 - Có thể áp dụng đƣợc cho mọi cấp, mọi mức độ khác nhau của diện tích quản lý, ví dụ nhƣ đơn vị quản lý hay hệ sinh thái, lƣu vực đầu nguồn, cảnh quan, loại rừng, vùng sinh thái, quốc gia, v.; tuy nhiên ở mỗi cấp độ khác nhau, cần phải xác định rõ ràng ranh giới của đơn vị quản lý hoặc vùng quản lý.
- Tạo ra cho xã hội một loạt các lợi ích môi trƣờng, xã hội và kinh tế phụ thuộc vào mức độ quy mô của vùng quản lý và tiềm năng của nó cũng nhƣ khả năng thực hiện. QUẢN LÝ RỪNG BỀN VỮNG TRÊN THẾ GIỚI Đối với tất cả các quốc gia trên thế giới, tài nguyên rừng luôn đóng vai trò hết sức quan trọng. Cuộc sống của phần lớn ngƣời dân miền núi phụ thuộc vào sự tồn tại của tài nguyên rừng. Thế nhƣng, những cố gắng tăng cƣờng kiểm soát hành chính đối với các khu rừng quốc gia thƣờng chỉ làm tăng thêm mâu thuẫn giữa các bên và chỉ gây thêm tổn hại lên hệ sinh thái, hơn là bảo tồn và sử dụng bền vững.
Do đó trên thế giới có nhiều nghiên cứu nhằm nỗ lực làm thay đổi chiến lƣợc bảo tồn từ đầu thập kỷ 1980. Một chiến lƣợc bảo tồn mới dần đƣợc hình thành và khẳng định tính ƣu việc, đó là liên kết quản lý Khu bảo tồn và Vƣờn Quốc gia với các sinh kế của cộng đồng dân cƣ địa phƣơng. Quản lý rừng bền vững đề cập đến hai khía cạnh quan trọng là xây dựng, bảo vệ và sử dụng các nguồn tài nguyên rừng phục vụ cho các nhu cầu của xã hội và việc đáp ứng các nhu cầu đó phải đƣợc diễn ra một cách thƣờng xuyên, liên tục và ổn định. Trong giai đoạn đầu của thế kỷ XX, hệ thống quản lý tài nguyên rừng tập trung đã thực hiện ở nhiều quốc gia, đặc biệt là những quốc gia đang phát triển.
Những công trình có tính kinh điển cho nghiên cứu rừng nhiệt đới phải kể đến A. Vào cuối thế kỷ XX, khi tài nguyên rừng bị suy thoái nghiêm trọng thì con ngƣời mới nhận thức đƣợc rằng; tài nguyên rừng là có hạn và cần đƣợc 5 bảo vệ. Để ngăn chặn tình trạng mất rừng, cộng đồng Quốc tế đã thành lập nhiều tổ chức, tiến hành nhiều hội nghị, đề xuất và cam kết nhiều Công ƣớc bảo vệ và phát triển rừng, trong đó có Chiến lƣợc bảo tồn Quốc tế (1980 và điều chỉnh năm 1991), tổ chức gỗ nhiệt đới (ITTO năm 1983), chƣơng trình hành động nhiệt đới (TFAP năm 1985), hội nghị về quốc tế và môi trƣờng phát triển (UNCED tại Rio de janerio năm 1992), công ƣớc về buôn bán các loài động thực vật quý hiếm (CITES), công ƣớc về đa dạng sinh học (CBD, 1992), công ƣớc về thay đổi khí hậu toàn cầu (CGCC, 1994), công ƣớc về chống sa mạc hoá (CCD, 1996), hiệp định quốc tế về gỗ nhiệt đới (ITTA, 1997). để nhằm tăng cƣờng quản lý và sử dụng tài nguyên rừng bền vững.
QUẢN LÝ RỪNG BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM Quản lý rừng bền vững: Hệ thống các biện pháp quản lý rừng đảm bảo sản xuất liên tục sản phẩm rừng, không làm suy giảm tài nguyên rừng và đa dạng sinh học và không gây tác động xấu đến môi trƣờng. Tài nguyên rừng đã ảnh hƣởng trực tiếp đến thu nhập và đời sống kinh tế nói chung của khoảng một phần ba dân số cả nƣớc. Ngoài ra, rừng còn là một trong những yếu tố ảnh hƣởng quan trọng đến hoàn cảnh môi trƣờng của đất, nƣớc. Nó góp phần quan trọng vào việc chống lại sự biến đổi khí hậu, điều tiết nguồn nƣớc, hạn chế thiên tai nhƣ lũ lụt, hạn hán, cháy rừng… Trong những thập kỷ qua Việt nam đã bị mất đi hàng triệu ha rừng.