Chương 1: Bối cảnh và nội dung cơ bản của Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa Nhật Bản năm 1950. Chương này phân tích tình hình bảo tồn di sản văn hóa ở Nhật Bản và những văn bản pháp qui liên quan đến bảo tồn di sản đã được ban hành từ thời Minh Trị đến trước năm 1950. Từ đó tác giả làm sáng rõ nhu cầu cấp bách cần có một văn bản luật bao quát đầy đủ các vấn đề đặt ra trong bảo tồn di sản đương thời. Chương 2: Quá trình sửa đổi bổ sung Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa Nhật Bản sau năm 1950.
Trong chương này tác giả tập trung phân tích về bối cảnh và những nội dung được sửa đổi bổ sung của Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa trải qua 5 lần sửa đổi từ năm 1950 đến năm 2004. Chương 3: Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa Nhật Bản hiện hành và bài học cho Việt Nam. Đây là phần phân tích những nội dung cơ bản của Luật Di sản Văn hóa Nhật Bản, từ đó đối chiếu với tình hình của Việt Nam để bước đầu đưa ra những gợi ý về bài học trong việc xây dựng cơ chế bảo tồn phù hợp. Nghiên cứu về Luật Bảo tồn Di sản Văn hóa Nhật Bản quả thực là một đề tài mới mẻ và khó khăn.
Do giới hạn về năng lực chuyên môn trong lĩnh vực bảo tồn của tác giả, khóa luận chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của các thầy cô giáo, các anh chị và bạn bè, để có những kiến thức toàn diện và sâu sắc hơn về đề tài này. Cuối cùng, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Cô giáo, PGS.TS Phan Hải Linh, người đã tận tâm hướng dẫn, chỉ dạy cho tôi trong suốt quá trình làm khóa luận. Tác giả 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Đông Phương học, các anh chị đi trước và bạn bè đã giúp đỡ tôi về mặt tư liệu và đóng góp cho khóa luận của tôi nhiều lời khuyên, ý kiến quý báu.
Hà Nội, ngày 05 tháng 10 năm 2016 Học viên cao học Đỗ Hà Phương 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 BỐI CẢNH VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA NHẬT BẢN NĂM 1950 1. Tình hình bảo tồn di sản văn hóa đầu thời Minh Trị Trước thời Cận đại, ở Nhật Bản, các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể thường được lưu truyền, kế thừa và bảo tồn trong các dòng họ hay các cộng đồng cư dân. Tiêu biểu là các bảo vật, nghi lễ của Hoàng tộc, gia sản và truyền thống của các gia đình quý tộc, võ sĩ hay thương nhân giàu có… Ngoài ra, những bảo vật và lễ hội thực hiện trong chùa chiền và thần xã cũng được lưu truyền cẩn mật. Trong cộng đồng, các loại hình biểu diễn nghệ thuật, văn hóa thị dân, di sản văn hóa truyền thống, các danh lam thắng cảnh của địa phương được coi trọng và phương pháp gìn giữ được lưu truyền qua các thế hệ.
Nhằm quảng bá giá trị, gây quỹ và nâng cao ý thức bảo vệ đối với các di sản, nhiều dòng họ, chùa xã và địa phương định kỳ tổ chức các hình thức trưng bày, giới thiệu bảo vật văn hóa hay danh lam của mình. Những hoạt động này đặc biệt phổ biến trong thời Edo. Nhiều dòng họ và chùa xã còn tổ chức trao đổi và giới thiệu bảo vật lẫn nhau để quảng bá bảo vật và gây quỹ bảo tồn. Sử sách có ghi lại vào năm Nguyên Lộc thứ 7 (1694) và năm Thiên Bảo thứ 13 (1842), với mục đích quảng bá tín ngưỡng và gây quỹ tu bổ chùa Horyu2 (法 隆寺), tự viện Kaiko 3 (回向院) ở Edo đã tiến hành trưng bày các bảo vật của chùa Horyu.
Có thể nói đặc điểm lịch sử không bị những cuộc xâm lăng từ bên ngoài là một yếu tố quan trọng giúp Nhật Bản gìn giữ các giá trị văn hóa. Bên cạnh đó, tính cách nghiêm cẩn nhưng cởi mở trong tiếp thu, khả năng chuyển hóa sáng tạo nhằm liên 2 Chùa Horyu tên đầy đủ là Horyu Gakumonji (法隆学問寺) do Thánh Đức Thái Tử chủ trì xây dựng năm 607 tại tỉnh Nara. Phần Chính điện và Tháp năm tầng của chùa được xem như là kiến trúc bằng gỗ thuộc loại cổ nhất trên thế giới còn tồn tại được đến ngày nay. Năm 1993, chùa là một phần của Quần thể kiến trúc Phật giáo được UNESCO công nhận là Di sản thế giới.
Trước đó chính phủ Nhật Bản đã công nhận đây là Quốc bảo. 3 Ngôi chùa ở phố Ryogoku, quận Sumida, Tokyo. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tục hoàn thiện, tính thực tiễn và coi trọng hiệu quả cũng là những yếu tố cốt lõi giúp người Nhật không những bảo vệ được các giá trị văn hóa truyền thống mà còn thường xuyên bổ sung, nâng cao giá trị của các di sản văn hóa.1: Tự viện Kaiko4 Hình 1.2: Kim đường chùa Horyu5 Mặc dầu vậy, có thể nói đến trước thời Minh Trị (1868-1912), hoạt động bảo tồn, tôn tạo các di sản văn hóa chủ yếu được thực hiện một cách tự phát mà không tồn tại một cơ chế bảo tồn và hệ thống pháp qui chính thức từ phía nhà nước. Trong thời Minh Trị, cùng với quá trình xây dựng nhà nước quân chủ lập hiến theo mô hình phương Tây, hệ thống văn bản pháp qui của Nhật Bản được gấp rút hình thành và từng bước bổ sung, hoàn thiện.
Trong bối cảnh đó, chế độ bảo tồn di sản văn hóa bắt đầu được xây dựng nhằm bảo tồn các giá trị văn hóa đang rơi vào tình trạng nguy cấp trước trào lưu Âu hóa (欧化主義). Tuy nhiên, việc xây dựng chế độ bảo tồn này diễn ra trong cả một quá trình dưới ảnh hưởng của bối cảnh chính trị, xã hội đương thời. Sau đây xin đơn cử một số chính sách mà chính phủ Minh Trị ban hành liên quan đến tự viện. Năm Minh Trị thứ nhất (1868), chính phủ muốn thực thi chính sách kết hợp tôn giáo và chính trị, nên đã ban hành lệnh Phân ly Thần Phật (神仏分離令), tách Thần Đạo (Shinto) khỏi Phật Giáo và đưa Thần Đạo lên hàng tôn giáo quốc gia.org/wiki/Ek%C5%8D-in 5 http://www.com/popup_page.php?menu=110 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tạo ra một cơn lốc bài báng Phật giáo trên toàn quốc.
Phong trào Phế Phật hủy Thích (廃仏毀釈), đòi dẹp bỏ chùa chiền, tượng Phật lan tràn khắp nơi. Trước tình hình đó, các giáo đoàn Phật giáo, đặc biệt là Thiền Tông, đã tức khắc liên kết với các tông phái khác thành các liên minh như Chư tông đồng đức hội minh (諸宗同徳会盟, 1868), Chư tông đồng đức hội (諸宗同徳会, 1868)… và đệ trình các kiến nghị lên Chính phủ. Nhằm giải quyết vấn đề này, sau đó 2 năm, Bộ Nội Vụ (民部省) đã lập ra một cơ quan gọi là Tự Viện Liêu (寺院寮) có nhiệm vụ thống nhất việc quản lý chùa chiền. Nhờ đó, các phong trào Phế Phật hủy Thích hay Bài Phật khí Thích mới tạm lắng xuống.
Tuy nhiên, năm 1871, chính phủ ban hành lệnh sung công đất đai nằm ngoài khuôn viên nhà chùa làm cho tình hình kinh doanh của chùa rơi vào cảnh khó khăn. Đặc biệt, các chùa thuộc phái Thiền Lâm Tế xưa nay vẫn sở hữu ruộng đất được Mạc phủ và các phiên trấn tiến cúng theo chế độ chu ấn địa (朱印地) và hắc ấn địa (黒印地)6. Nhiều tháp đầu7 (塔頭) của chùa vốn là các chi nhánh hoạt động ở ngoài khuôn viên chùa vì thế bị rời vào chùa chính hay có nguy cơ biến mất. Trước nguy cơ này, các giáo đoàn phải thay đổi lối quản lý cũ vốn lấy tháp làm trung tâm của mọi hoạt động.
Ngoài ra, trong chế độ hành chính mới, chính quyền chỉ cho phép giữ lại mối liên hệ của mạt tự (末寺, tức chùa chi nhánh ở địa phương) đối với bản sơn (本山, tức chùa chính), còn các tháp ngoài chùa nếu còn chỉ đóng vai trò ngang hàng với một mạt tự. Những văn bản pháp qui về bảo tồn di sản văn hóa đƣợc ban hành từ thời Minh Trị đến trƣớc năm 1950 1) Sắc lệnh về Phương pháp bảo tồn cổ vật 6 Đây là tên gọi các mảnh đất được cúng tiến và được công nhận bằng các giấy tờ chuyển nhượng có đóng dấu màu đỏ (của Mạc phủ) hay dấu màu đen (của chính quyền phiên trấn). 7 “Tháp đầu” là nơi lưu giữ xá lị các Cao tăng của chùa lớn và nổi tiếng, hoặc những vị đứng đầu giáo phái sau khi chết. Tháp được xây trong hoặc ngoài khuôn viên chùa để các đệ tử tưởng nhớ về đức độ của vị Cao tăng đã khuất.
Ngoài ra tiểu viện mà vị Cao tăng sống sau khi lui về ở ẩn cũng được gọi là Tháp đầu. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong những năm đầu thời Minh Trị, khi một bộ phận lớn người dân say sưa với phong trào Âu hóa và chế độ Phế Phật hủy Thích, nhiều giá trị văn hóa truyền thống của Nhật Bản bị xem nhẹ, dẫn đến nguy cơ thất thoát, hư hoại nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể. Năm Minh Trị thứ 4 (1871), chính phủ ban hành sắc lệnh về Phương pháp bảo tồn cổ vật (古器旧物保存方), đồng thời tuyên truyền rộng rãi cho người dân trên toàn quốc ý thức bảo quản cổ vật nhằm lưu truyền lại cho hậu thế. Bên cạnh đó, chính phủ còn chỉ thị cho chính quyền địa phương lập danh mục báo cáo về các cổ vật và người sở hữu cổ vật trong địa phương.
Cũng theo sắc lệnh này, cổ vật được chia làm 31 nhóm và xếp thứ tự tùy theo mức độ quan trọng. Việc phân loại này về sau trở thành tiêu chuẩn phân loại hiện vật tại các bảo tàng của Nhật Bản. Như vậy đây là lần đầu tiên một sắc lệnh của chính phủ đưa ra những chỉ dẫn về việc thống kê, bảo quản, phân loại di sản và chủ sở hữu. Sắc lệnh này còn có ý nghĩa tuyên truyền hướng dẫn cho địa phương và người dân về ý thức bảo tồn các di sản văn hóa.
2) Chính sách Trợ cấp bảo tồn chùa xã cổ Như đã trình bày, trong thời Edo, nhằm mục đích gây quỹ tu bổ miếu mạo, nhiều chùa xã ở Nhật Bản đã tổ chức các hoạt động trưng bày hiện vật cổ của chùa hoặc trao đổi quảng bá hiện vật lẫn nhau. Trường hợp trưng bày hiện vật của chùa Horyu năm Thiên Bảo thứ 13 (1842) là một ví dụ. Tuy nhiên kết quả của việc trưng bày này không đem lại đủ nguồn phụ kinh phí tu bổ cho nhà chùa như mong muốn.