PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài: Nước là nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng đối với sự phát triển, tồn tại của con người và tất cả các sinh vật trên Trái Đất. Nước là nguồn tài nguyên quý giá nhưng không phải là bất tận. Theo ước tính thì trên Trái Đất chỉ có 0,5% là nước ngọt từ các sông, suối, ao, hồ mà con người đã và đang sử dụng.
Tuy nhiên, nếu trừ các nguồn nước bị nhiễm bẩn thì chỉ còn lại khoảng 0,003% là nước ngọt mà con người có thể sử dụng được. Ngày nay, với sự gia tăng dân số cũng như sự phát triển của các ngành khoa học kỹ thuật dẫn đến nhu cầu nước sạch càng ngày càng tăng theo đà phát triển của nền công nghiệp hóa, hiện đại hóa và sự nâng cao mức sống của con người. Nguồn nước sạch thì có hạn nhưng nhu cầu của con người ngày càng tăng dẫn đến tình trạng khan hiếm nước ở nhiều quốc gia nói chung trong đó có Việt Nam. Năm 2013, Viêt Nam có khoảng 17,2 triệu người đang sử dụng nguồn nước sinh hoạt từ giếng khoan, chưa được kiểm nghiệm hay qua xử lý.
Trung bình mỗi năm Việt Nam có khoảng 9.000 người tử vong vì nguồn nước và điều kiện sinh hoạt kém và hằng trăm ngàn người mắc ung thư mà một trong các nguyên nhân đó là do nguồn nước bị ô nhiễm. Từ đó ta thấy rằng nguồn nước cực kỳ quan trọng. Chính vì vậy, việc quản lý và sử dụng nguồn nước như thế nào cho hợp lý và bền vững là vấn đề cấp thiết đặt ra cho thế giới và cho Việt Nam trong giai đoạn này. Từ những vấn đề trên, con người đã tìm các biện pháp để quản lý và sử dụng nguồn nước sạch hiện có một cách hiệu quả nhất.
Một trong các biện pháp sử dụng đó là phòng chống thất thoát bằng các thiết bị phát hiện rò rỉ và từ các nguồn tập trung. Theo chương trình phòng chống thất thoát phê duyệt năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ thì mục tiêu “giảm tỷ lệ thất thoát, thất thu nước sạch bình quân từ 30% năm 2009 xuống dưới 15% vào năm 2025”, mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạn như sau: Năm 2016, tỉ lệ thất thoát của hệ thống cấp nước Thành phố Biên Hòa là 16,8% và hiện nay Công ty đang phấn đấu giảm tỉ lệ thất thoát xuống còn 10% Tỉ lệ thất thoát nước cũng là chỉ số để đánh giá mức độ của hệ thống cấp nước, trình độ của dịch vụ…Nước bị thất thoát nhiều là sự thiệt hại lớn cho sản xuất, kinh doanh, ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí và là mối quan tâm lớn của Công ty. Do đó, việc “Nghiên cứu đề xuất giải pháp kỹ thuật phòng chống thất thoát của hệ thống câp nước thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai” là cấp thiết để đáp ứng cho nhu cầu của con người cũng như sự phát triển của Thành phố Biên Hòa. Mục tiêu của đề tài: 5 Luận văn Thạc sĩ Kỹ thuật Ngô Thị Quỳnh Châu - Đánh giá năng lực hiện trạng cấp nước của hệ thống cấp nước thành phố Biên Hòa.
- Xác định được vùng bị rò rỉ, thất thoát nước và tỉ lệ thất thoát. - Tìm ra nguyên nhân gây thất thoát trong mạng lưới cấp nước. - Đề xuất các giải pháp kỹ thuật phòng chống thất thoát của hệ thống cấp nước thành phố Biên Hòa đáp ứng được nhu cầu sử dụng nước hiện tại và trong tương lai của thành phố Biên Hòa. Nội dung và phạm vi nghiên cứu: 3.
Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu, đánh giá thực trạng phòng và chống thất thoát trong hệ thống cấp nước tại thành phố Biên Hòa, cụ thể là hiện trạng cấp nước và thất thoát tại phường Bửu Long thuộc thành phố Biên Hòa; từ đó đề xuất các giải pháp giảm thất thoát nước nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần Cấp nước Đồng Nai. Phạm vi nghiên cứu: Hệ thống cấp nước phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa do Công ty Cổ phần Cấp nước Đồng Nai quản lý. Cách tiếp cận và phƣơng pháp nghiên cứu: 4. Để thực hiện đƣợc các mục tiêu đƣa ra trong đề tài thì cách tiếp cận dựa trên: - Thu thấp số liệu, điều tra hiện trạng và đo đạc kiểm chứng; - Sử dụng các mô hình toán thủy lực để mô hình hóa hệ thống thủy lực mạng lưới cấp nước nhằm đánh giá hiện trạng cấp nước và rò rỉ nước, tìm ra các điểm thất thoát trên hệ thống cấp nước phường Bửu Long thành phố Biên Hòa; - Đề xuất các kịch bản cấp nước và phân tích lựa chọn giải pháp khả thi.
Phƣơng pháp tiếp cận: - Điều tra, thu thập số liệu hiện trạng mạng lưới cấp và lượng thất thoát; - Sử dụng phương pháp điều tra, đo đạc thực tế; - Sử dụng phương pháp phân tích thống kê; - Phương pháp mô hình toán mô phỏng thủy lực mạng lưới cấp nước; - Phương pháp phân tích đánh giá hệ thống mạng. 6 Luận văn Thạc sĩ Kỹ thuật Ngô Thị Quỳnh Châu 5. Kết quả dự kiến đạt đƣợc: - Mô hình tính toán được thủy lực mạng đường ống theo hiện trạng và các kịch bản tính toán. - Lựa chọn được các giải pháp kỹ thuật phòng chống thất thoát của hệ thống cấp nước phường Bửu Long thành phố Biên Hòa.
7 Luận văn Thạc sĩ Kỹ thuật Ngô Thị Quỳnh Châu CHƢƠNG I: TỔNG QUAN 1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của Thành phố Biên Hòa: 1. Vị trí địa lý: - Tỉnh Đồng Nai nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, với diện tích tự nhiên là 5. Đồng Nai có tọa độ từ 10o30’03 đến 11o34’57’’B và từ 106o45’30 đến 107o35’00"Đ.
Phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận, phía Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và Thành phố Hồ Chí Minh, phía Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng và Bình Dương. Đồng Nai có vị trí hết sức quan trọng, là cửa ngõ phía đông Thành phố Hồ Chí Minh và là một trung tâm kinh tế lớn của cả phía Nam, nối Nam Trung Bộ, Nam Tây Nguyên với toàn bộ vùng Đông Nam Bộ. - Biên Hòa nằm ở phía tây tỉnh Đồng Nai, bắc giáp huyện Vĩnh Cửu, nam giáp huyện Long Thành, đông giáp huyện Trảng Bom, tây giáp huyện Dĩ An, Tân Uyên tỉnh Bình Dương và Quận 9 - thành phố Hồ Chí Minh. - Biên Hòa ở hai phía của sông Đồng Nai, cách trung tâm thành phố Hồ Chí Minh 30 km (theo Xa lộ Hà Nội và Quốc lộ 1A), cách thành phố Vũng Tàu 90 Km (theo Quốc lộ 51).
- Tổng diện tích tự nhiên là 264,08 km2, với mật độ dân số là 2.970 người/km2. Thành phố Biên hòa nằm phía Tây Nam tỉnh Đồng Nai, là Trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội của tỉnh lớn này. - Biên Hòa có 30 đơn vị hành chính trực thuộc (gồm 23 phường và 7 xã). Cụ thể, các phường gồm: An Bình, Bửu Hòa, Bình Đa, Bửu Long, Hòa Bình, Hố Nai, Long Bình, Long Bình Tân, Quyết Thắng, Quang Vinh, Thanh Bình, Tam Hiệp, Tam Hòa, Tân Biên, Thống Nhất, Tân Hiệp, Tân Hòa, Tân Mai, Tân Phong, Tân Tiến, Tân Vạn, Trảng Dài, Trung Dũng và 7 xã: Hóa An, Hiệp Hòa, Tân Hạnh, riêng các xã An Hòa, Long Hưng, Phước Tân và Tam Phước mới được sát nhập vào Biên Hòa vào tháng 4/2010.
- Bửu Long là phường có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời, với Khu du lịch Bửu Long, các khu vườn bưởi Tân Triều nổi tiếng khắp miền Đông Nam Bộ. Vị trí địa lý phường Bửu Long được xác định: Phía Đông giáp phường Tân Phong, phường Quang Vinh, phường Hòa Bình, phía Tây và phía Nam giáp sông Đồng Nai, phía Bắc giáp phường Tân Phong và xã Bình Hòa (huyện Vĩnh Cửu). Tổng diện tích tự nhiên: 575,57 héc ta.559 người với 08 dân tộc cộng cư. Dân tộc Kinh chiếm số lượng đông đảo.
Toàn phường Bửu Long được chia làm 5 khu phố 8 Luận văn Thạc sĩ Kỹ thuật Ngô Thị Quỳnh Châu THÀNH PHỐ BIÊN HÒA Hình 1.1: Vị trí khu vực nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Đồng Nai Hình 1.2: Khu vực nghiên cứu điển hình (phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa). Điều kiện tự nhiên: 1. Khí hậu: 9 Luận văn Thạc sĩ Kỹ thuật Ngô Thị Quỳnh Châu - Biên Hòa nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, với khí hậu ôn hòa, ít chịu ảnh hưởng của thiên tai, đất đai màu m (phần lớn là đất đỏ bazan), có hai mùa tương phản nhau (mùa khô và mùa mưa). - Nhiệt độ cao quanh năm là điều kiện thích hợp cho phát triển cây trồng nhiệt đới, đặc biệt là các cây công nghiệp có giá trị xuất khẩu cao.
- Nhiệt độ bình quân năm là: 26,3oC chênh lệch nhiệt độ cao nhất giữa tháng nóng nhất và lạnh nhất là 4,2oC. - Lượng mưa tương đối lớn và phân bố theo vùng và theo vụ tương đối lớn khoảng 2.065,7mm phân bố theo vùng và theo vụ. - Độ ẩm trung bình năm là 80%. - Mực nước thấp nhất sông Đồng Nai năm là: 109,24m.
- Mực nước cao nhất sông Đồng Nai năm: 113,12m. Thủy văn: Sông Ðồng Nai bắt nguồn từ cao nguyên Langbiang (Ðà Lạt) và hợp lưu bởi nhiều sông khác, như sông La Ngà, sông Bé, nên có lưu vực lớn, khoảng 45. Nó có lưu lượng bình quân 20-500 m3/s và lưu lượng cao nhất trong mùa lũ lên tới 10.000 m3/s, hàng năm cung cấp 15 tỷ m3 nước và là nguồn nước ngọt chính của thành phố Hồ Chí Minh. Sông Ðồng Nai nối thông qua sông Sài Gòn ở phần nội thành mở rộng, bởi hệ thống kênh Rạch Chiếc.
Địa chất công trình: Tỉnh Đồng Nai có địa hình vùng đồng bằng và bình nguyên với những núi sót rải rác, có xu hướng thấp dần theo hướng bắc nam, với địa hình tương đối bằng phẳng. Địa hình có thể chia làm các dạng là địa hình đồng bằng, địa hình trũng trên trầm tích đầm lầy biển, địa đồi lượn sóng, dạng địa hình núi thấp, đất phù sa, đất gley và đất cát có địa hình bằng phẳng, nhiều nơi trũng ngập nước quanh năm. Đất đen, nâu, xám hầu hết có độ dốc nhỏ hơn 8o, đất đỏ hầu hết nhỏ hơn 15o. Riêng đất tầng mỏng và đá bọt có độ dốc cao.
Tỉnh Đồng Nai có quỹ đất phong phú và phì nhiêu. Có 10 nhóm đất chính, tuy nhiên theo nguồn gốc và chất lượng đất có thể chia thành 3 nhóm chung gồm: các loại đất hình thành trên đá bazan, các loại đất hình thành trên phù sa cổ và trên đá phiến sét, các loại đất hình thành trên phù sa mới.