Luận Văn Thạc Sĩ: Nghiên Cứu Biện Pháp Xử Lý Sạt Trượt Mái Taluy Đường Ô Tô

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu nghiên cứu biện pháp xử lý sạt trượt mái taluy đường ô tô, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn thiện trong lĩnh vực .

Trường đại học

Trường Đại học Thủy lợi

Chuyên ngành

Công trình giao thông

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn

2011-2014

116
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

BẢN CAM KẾT

MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài

0.2. Mục đích của đề tài

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HIỆN TƯỢNG SẠT TRƯỢT MÁI TA-LUY ĐƯỜNG Ô TÔ

1.1. Khái niệm hiện tượng sạt trượt

1.2. Phân loại hiện tượng sạt trượt mái ta-luy

1.2.1. Trượt đất

1.2.2. Sạt trượt đất đá

1.2.3. Xói sạt đất đá

1.2.4. Đá đổ, đá lăn

1.3. Tình hình sạt trượt mái ta-luy đường ô tô ở các tỉnh miền núi

1.4. Các biện pháp xử lý sạt trượt ta-luy đường ô tô đã và đang áp dụng các nước trên thế giới và Việt Nam

1.5. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ NEO TRONG ĐẤT (GROUND ANCHOR)

2.1. Neo

2.1.1. Lịch sử phát triển neo trong đất

2.1.2. Phân loại neo trong đất

2.1.3. Neo tạo lực kéo

2.1.4. Neo tạo lực nén tập chung

2.1.5. Neo tạo lực nén phân bố

2.2. Cấu tạo neo trong đất

2.2.1. Thanh thép và bó cáp

2.2.2. Cừ định vị và miếng định tâm (Spacer and Centralizer)

2.2.3. Vữa epoxy lấp đầy khoảng trống các tao cáp

2.2.4. Vữa xi măng

2.3. Công thức tính sức chịu nhổ của neo trong đất

2.3.1. Nguyên lý chống nhổ của thanh neo

2.3.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến sức chịu nhổ của thanh neo

2.3.3. Một số công thức tính sức chống nhổ của neo (giao diện đất – neo)

2.3.4. Giao diện vữa – dây neo

2.4. Ứng dụng neo trong đất

2.4.1. Neo ổn định tường chắn đất khi thi công hố đào

2.4.2. Ổn định kết cấu

2.4.3. Ổn định tường chắn khi thi công đường đào

2.4.4. Ổn định và chống sạt lở mái dốc

2.5. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: CƠ SỞ LÝ THUYẾT TÍNH TOÁN ỔN ĐỊNH MÁI DỐC

3.1. Cơ sở tính toán ổn định mái dốc

3.2. Nhóm phương pháp theo lý thuyết cân bằng giới hạn của khối rắn

3.3. Nhóm phương pháp dựa vào lý thuyết cân bằng giới hạn thuần tuý

3.4. Các loại áp lực đất và điều kiện sinh ra chúng

3.4.1. Áp lực đất ở trạng thái ngưng

3.4.2. Áp lực đất do tải trọng chất thêm

3.5. Công thức tính áp lực đất theo thuyết áp lực đất Coulomb mở rộng

3.6. Phần mềm phần tử hữu hạn Plasix 8

3.6.1. Các mô hình đất trong phần mềm Plasix 8

3.6.2. Tính áp lực đất bằng phần mềm Plasix

3.7. Kết luận chương 3

4. CHƯƠNG 4: ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP XỬ LÝ SẠT TRƯỢT MÁI TA-LUY BẰNG HỆ THỐNG TƯỜNG NEO

4.1. Bài toán thiết kế neo trong đất

4.2. Xác định vị trí mặt trượt giới hạn

4.3. Tính toán tải trọng neo

4.4. Thiết kế đoạn chiều dài không liên kết

4.5. Thiết kế đoạn chiều dài đoạn liên kết

4.6. Xác định khoảng cách các neo và góc nghiêng của neo

4.7. Kiểm tra ổn định chung và ổn định cục bộ của hệ thống tường neo

4.8. Thiết kế neo ổn định cho một mái dốc bằng phần mềm Plasix 8

4.8.1. Mô hình bài toán

4.8.2. Tính toán mật độ và khoảng cách hợp lý của hệ thống tường neo

4.9. Kết luận chương 4

4.10. Những tồn tại và hướng tiếp tục nghiên cứu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về biện pháp xử lý sạt trượt mái taluy đường ô tô

Sạt trượt mái taluy đường ô tô là một vấn đề nghiêm trọng tại Việt Nam, đặc biệt ở các tỉnh miền núi. Với địa hình dốc và khí hậu nhiệt đới, hiện tượng này gây ra nhiều thiệt hại cho cơ sở hạ tầng giao thông. Việc tìm hiểu và áp dụng các biện pháp xử lý hiệu quả là cần thiết để đảm bảo an toàn cho người tham gia giao thông và giảm thiểu thiệt hại kinh tế.

1.1. Khái niệm và nguyên nhân gây sạt trượt mái taluy

Sạt trượt mái taluy là hiện tượng chuyển động của khối đất, đá xuống dưới tác động của trọng lực. Nguyên nhân chính bao gồm mưa lớn, địa hình dốc, và sự phong hóa của đất đá. Các yếu tố này kết hợp với nhau tạo ra áp lực lớn lên mái taluy, dẫn đến hiện tượng sạt trượt.

1.2. Tình hình sạt trượt mái taluy đường ô tô tại Việt Nam

Tình hình sạt trượt mái taluy đường ô tô ở các tỉnh miền núi diễn ra thường xuyên, đặc biệt vào mùa mưa. Các tuyến đường như Quốc lộ 34 và 206 đã ghi nhận nhiều vụ sạt trượt nghiêm trọng, gây thiệt hại lớn về kinh tế và an toàn giao thông.

II. Vấn đề và thách thức trong xử lý sạt trượt mái taluy

Việc xử lý sạt trượt mái taluy gặp nhiều thách thức do điều kiện địa hình phức tạp và khí hậu khắc nghiệt. Các biện pháp hiện tại chưa phát huy hết hiệu quả, dẫn đến tình trạng sạt trượt vẫn tiếp diễn. Cần có những giải pháp mới và hiệu quả hơn để đảm bảo an toàn cho các tuyến đường.

2.1. Các biện pháp xử lý hiện tại và hạn chế

Các biện pháp xử lý hiện tại như kè chống xói, trồng cây xanh, và sử dụng vật liệu gia cố chưa đủ hiệu quả. Hạn chế lớn nhất là chi phí cao và thời gian thi công kéo dài, dẫn đến việc không thể áp dụng đồng bộ trên diện rộng.

2.2. Tác động của biến đổi khí hậu đến sạt trượt

Biến đổi khí hậu làm gia tăng tần suất và cường độ mưa, dẫn đến nguy cơ sạt trượt mái taluy tăng cao. Điều này đòi hỏi các biện pháp xử lý phải được điều chỉnh để thích ứng với tình hình mới.

III. Phương pháp xử lý sạt trượt mái taluy hiệu quả

Để xử lý sạt trượt mái taluy hiệu quả, cần áp dụng các phương pháp kỹ thuật tiên tiến và phù hợp với điều kiện địa phương. Các giải pháp như hệ thống tường neo, gia cố bằng cáp, và công nghệ mới trong xây dựng sẽ được đề xuất.

3.1. Hệ thống tường neo trong xử lý sạt trượt

Hệ thống tường neo là một trong những biện pháp hiệu quả nhất để ổn định mái taluy. Nó giúp phân tán lực tác động lên mái dốc và ngăn chặn sự dịch chuyển của đất đá.

3.2. Công nghệ gia cố mái taluy bằng cáp

Công nghệ gia cố mái taluy bằng cáp giúp tăng cường độ bền và ổn định cho mái dốc. Việc sử dụng cáp neo kết hợp với các vật liệu khác sẽ tạo ra một hệ thống vững chắc hơn.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu và ứng dụng các biện pháp xử lý sạt trượt mái taluy đã cho thấy nhiều kết quả khả quan. Các dự án thí điểm đã được triển khai tại một số tỉnh miền núi, mang lại hiệu quả rõ rệt trong việc giảm thiểu sạt trượt.

4.1. Các dự án thí điểm thành công

Một số dự án thí điểm tại Cao Bằng và Điện Biên đã áp dụng hệ thống tường neo và công nghệ gia cố mái taluy, cho thấy hiệu quả rõ rệt trong việc ngăn chặn sạt trượt.

4.2. Đánh giá hiệu quả kinh tế và xã hội

Việc áp dụng các biện pháp xử lý sạt trượt không chỉ giúp bảo vệ hạ tầng giao thông mà còn giảm thiểu thiệt hại kinh tế và đảm bảo an toàn cho người dân. Đánh giá hiệu quả kinh tế cho thấy chi phí đầu tư ban đầu có thể được bù đắp qua việc giảm thiểu thiệt hại do sạt trượt.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai

Việc xử lý sạt trượt mái taluy đường ô tô là một nhiệm vụ cấp bách và cần thiết. Cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các biện pháp mới, đồng thời nâng cao nhận thức của cộng đồng về vấn đề này.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu và phát triển

Nghiên cứu và phát triển các biện pháp xử lý sạt trượt là cần thiết để đảm bảo an toàn cho hệ thống giao thông. Cần có sự đầu tư và hỗ trợ từ các cơ quan chức năng.

5.2. Định hướng tương lai cho xử lý sạt trượt

Định hướng tương lai cần tập trung vào việc áp dụng công nghệ mới và cải tiến các phương pháp hiện tại. Sự kết hợp giữa khoa học công nghệ và thực tiễn sẽ mang lại hiệu quả cao hơn trong việc xử lý sạt trượt mái taluy.

22/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HIỆN TƯỢNG SẠT TRƯỢT MÁI TA-LUY ĐƯỜNG Ô TÔ 1. Khái niệm hiện tượng sạt trượt Sạt trượt là các quá trình chuyển động của khối đất, đá về phía chân sườn dốc dưới tác dụng của trọng lực. Phân loại hiện tượng sạt trượt mái ta-luy Có nhiều cách phân loại sạt trượt mái ta-luy tuy nhiên, tác giả phân loại theo những tiêu chí sau: - Bản chất, cơ chế phát sinh, phát triển và đặc điểm dịch chuyển của đất đá trên mái dốc. - Các điều kiện và nguyên nhân chính phát sinh ra hiện tượng sạt trượt.

Hiện tượng sạt trượt mái ta-luy bao gồm: 1. Trượt đất Trượt đất là hiện tượng cả nguyên khối đất đá nằm trên sườn đồi hay mái dốc bị dịch chuyển như một cố thể theo nguyên lý trọng lực, hướng di chuyển tịnh tiến xuống phía dưới trên một mặt liên tục, gẫy khúc hoặc có dạng cung tròn trong lòng đất gọi là mặt trượt. Đất đá và cây cối nằm bên trên khối trượt, trong quá trình dịch chuyển không bị xáo trộn. Cây cối mọc trên thân khối trượt vẫn còn nguyên nhưng sẽ bị nghiêng đều theo một hướng (còn gọi là hiện tượng cây say, rừng say ).

Trong đó, đất đá trên thân khối trượt và phía dưới bề mặt trượt vẫn có độ ẩm bình thường nhưng đất tại mặt trượt lại có đổ ẩm cao, tăng vọt và trạng thái đất đá tại đó bị cà nát, vò nhàu, vỡ vụn. Sơ đồ trượt đất 1. Sạt trượt đất đá Khối đất sạt trượt có xu hướng dịch chuyển xuống cuối dốc, đất đá trong khối trượt bị xáo trộn cùng cây cối. Tốc độ sạt trượt thường diễn ra khá nhanh ảnh hưởng đến độ ổn định của các khối đất kề bên.

Lượng đất sạt có thể chuyến một thể tích khá lớn, có thể tràn lấp hẳn một đoạn đường. Đây là loại sạt trượt phổ biến trên các tuyến đường ở các tỉnh miền núi nước ta. Sơ đồ sạt trượt đất đá 5 1. Xói sạt đất đá Do tác động bào xói của nước mặt và áp lực thủy động của nước ngầm gây ra.

Đây là hiện tượng biến dạng cục bộ của sườn đồi hoặc mái dốc dưới tác động trực tiếp của dòng chảy từ lưu vực phía trên đổ về hoặc kết hợp với tác động của dòng chảy ngầm. Đối với nền đường đào lúc đầu xuất hiện hiện tượng xói đất và đất bị bóc từng mảng ở phía trên đỉnh ta-luy sau đó phát triển mạnh dần xuống phía dưới dọc theo dòng chảy và tỷ lệ với lưu tốc dòng chảy. Mức độ hoạt động gây xói thường chậm, có thể sau hàng giờ, hàng ngày, hàng tuần mới hoàn thành một quá trình xói sạt. Khối lượng xói sạt không lớn và tùy thuộc vào mức độ phong hóa đất đá, độ dốc của sườn mái dốc, lượng nước ngầm, nước mặt.

Hậu quả cuối cùng của hiện tượng này thường để lại trên mặt địa hình những rãnh xói, những hang hốc. Sản phẩm của xói sạt là những đống đất đá ở chân dốc, lấp mặt đường hoặc lấp suối. Đá đổ, đá lăn Là hiện tượng các tảng, các khối đá từ trên cao sườn đồi hoặc mái dốc bị lở và rơi tự do xuống mặt đường tạo thành từng đống vụn, từng mảng hoặc thành từng khối lớn có kích thước vài cm đến hàng chục mét, gây mất ổn định cho mái dốc, cản 6 trở giao thông, đặc biệt đe dọa đến an toàn giao thông cho người và phương tiện tham gia giao thông trên đường. Tình hình sạt trượt mái ta-luy đường ô tô ở các tỉnh miền núi Các tỉnh miền núi với đặc điểm địa hình dốc, núi cao và địa chất đa dạng phức tạp cùng mạng lưới thủy văn dày.

Địa hình núi cao lại bị phân cắt mạnh nên các sông thường có độ dốc lớn, cùng hoạt động khai thác lãnh thổ không hợp lý những năm gần đây đã xuất hiện rầm rộ các loại hình tai biến địa chất như: sạt trượt mái ta-luy đường giao thông, lũ quét – lũ bùn đá, sạt lở bờ sông. Khu vực miền núi phía bắc là địa bàn kinh tế xã hội quan trọng của cả nước. Tại các tỉnh của khu vực này thường xuyên diễn ra các tai biến địa chất trong đó có hiện tượng sạt trượt ta-luy đường giao thông đặc biệt vào mùa mưa gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế, xã hội. Vào tháng 6/2005, mưa lớn đã gây sạt lở đất trên các tuyến đường giao thông liên huyện, liên xã của tỉnh Cao Bằng.

Tuyến quốc lộ 34 từ thị xã Cao Bằng đi qua các huyện Nguyên Bình, Bảo Lạc và Bảo Lâm đã bị sạt lở vách đường, sạt nền 7 đường, thiệt hại ước tính 4,6 tỷ đồng. Các tuyến tỉnh lộ 205, 206, 207, 211, 212 cũng bị sạt lở vách, giá trị thiệt hại 2,5 tỷ đồng. Kè chống xói lở trên tuyến đường liên xã từ xã Hoa Thám đến xã Hưng Đạo (huyện Nguyên Bình) dài gần 100 m bị hỏng nặng, ước tính thiệt hại đến 500 triệu đồng. Cũng trong năm 2005, các công trình giao thông trên địa bàn toàn tỉnh bị sạt lở một khối lượng đất đá rất lớn, khoảng 160.000 m3, và trong 9 tháng đầu năm 2006, khối lượng sạt lở gần 120.000 m3 và làm trôi 41 cầu dân sinh… Tuyến tỉnh lộ 206 từ Trùng Khánh đi Hạ Lang dài 68 km: Tai biến trượt lở đất đá xảy ra chủ yếu trên đoạn đường đi qua các xã Minh Long, Lý Quốc và Đồng Loan của huyện Hạ Lang với chiều dài khoảng 18 km.

Đoạn đường này đi trong thung lũng kiến tạo hẹp nằm ở mực địa hình thấp có độ cao tuyệt đối khoảng 500- 600 m, trùng với hệ thống đứt gãy phương TB-ĐN của đới đứt gãy sông Quây Sơn. Đoạn đường đi bên cánh của nhân nếp lồi cổ Hạ Lang trên nền đá gốc là trầm tích lục nguyên cuội kết, cát kết, bột kết, đá phiến sét của hệ tầng Sông Cầu (D1 sc) và trên đá vôi sét, đá silic của hệ tầng Nà Quản (D1-2 nq). Trên đoạn đường này đã thống kê được 40 điểm trượt lở với hình thức trượt đất xảy ra chủ yếu trong lớp vỏ phong hoá dày. Kích thước của các khối trượt trên tuyến đường này cũng khác nhau, nhưng nhìn chung có quy mô nhỏ.

Chiều rộng của các khối trượt khoảng 20- 25 m, cao 20-30 m, cắt sâu vào sườn 2-3 m. Các khối trượt xảy ra chủ yếu trên vách dương của đường với độ dốc 400-500 và xảy ra trong lớp vỏ phong hoá bị phá huỷ, vò nhàu, vỡ vụn. Đây là đặc trưng kiểu trượt đất. Trượt đất đoạn qua xã Bắc Hợp – Nguyên Bình – Cao Bằng Hình 1.

Trượt đất trên đoạn đường đi qua xã Minh Long – Hạ Lang – Cao Bằng Tỉnh Bắc Kạn cũng là một trong những tỉnh miền núi thường xuyên xảy ra sạt trượt ta-luy đường giao thông. Trong mùa mưa lũ tháng 8 năm 2012 vừa rồi trên các tuyến đường trọng điểm như Quốc lộ 3B, tỉnh lộ 257 đều đang thi công dang dở, do gặp mưa bão kéo dài đã gây ra tình trạng sạt lở ta luy, mặt đường lầy lội, dẫn 9 tới việc giao thông đi lại gặp rất nhiều khó khăn. Các phương tiện lưu thông trên tuyến đường Quốc lộ 3B gặp vô vàn khó khăn. Trên đoạn qua đèo áng Tòng với địa hình đèo cao, vực sâu, mưa lũ kéo dài đã gây sạt trượt nhiều điểm, mặt đường nước mưa chảy xói thành rãnh, đất bùn lầy lội.

Tại đoạn qua xã Hảo Nghĩa do phải đổ nâng cao cốt nền đường lại không được khơi nước nên nước đọng lại thành một đoạn dài lầy lội, nhiều xe chở hàng qua lại bị mắc lầy phải thuê xe kéo rất tốn kém. Ngoài ra, những đoạn mà chưa thi công đều rậm rạp cây cối ven đường, che khuất tầm nhìn gây nguy hiểm cho các phương tiện tham gia giao thông. Tuyến đường 257 từ thị xã đi Chợ Đồn cũng bị sạt lở nhiều điểm do ta luy dương cao và dựng, mặt đường lầy lội khi mưa. Nhiều vị trí ta luy âm, đất đá sạt trượt xuống tận mép sông Cầu.

Còn tuyến đường 258 thì mặc dù cơ bản đã hoàn thành nhưng rất nhiều điểm bị sạt lở ta luy dương khá nghiêm trọng. Cụ thể như trên đèo Vi Hương, đèo Kéo Doọc…sạt lở đã chiếm hơn phân nửa diện tích mặt đường, khiến cho các phương tiện tham gia giao thông đi qua phải rẽ ra cả mép đường lầy lội. Sạt trượt đất đá trên đèo Vi Hương thuộc đường 258 Tỉnh Điện Biên có 2 quốc lộ bao gồm: Quốc lộ 6 đoạn từ km335 - km 406 và Quốc lộ 279 đoạn km0 - km116. Đặc điểm của tuyến đường chủ yếu là đèo dốc, quanh co hiểm trở, địa hình chia cắt, núi cao, vực sâu, thường xuyên bị sạt lở vào mùa mưa lũ.

Quốc lộ 6 và 279 là tuyến đường độc đạo nối T.P Điện Biên Phủ với các tỉnh miền xuôi, khả năng phân luồng khi có tình huống xảy ra rất khó khăn. Trong khi đó, phần lớn tuyến đường mới được bàn giao và đưa vào sử dụng trở lại, do vậy mà ta luy, nền đường chưa ổn định, nguy cơ sạt lở đất đá gây ách tắc giao thông tại nhiều vị trí. Mùa mưa năm 2012 chịu ảnh hưởng của thời tiết mưa nhiều, kéo dài, những ngày qua, trên tuyến đường Mường Chà - Mường Nhé, nhiều điểm ta luy dương đã 11 bị nước mưa gây xói mòn làm sạt sạt, lở đất gây ách tắc và khó khăn cho người và các phương tiện lưu thông trên tuyến đường này. Điểm xói sạt đất đá tại Km70 tuyến đường Chà Cang – Mường Nhé Cũng trong mùa mưa năm 2012 dọc theo tuyến đường mới mở thuộc quốc lộ 12 đường tránh ngập thuộc dự án di dân tái định cư thủy điện Sơn La, tại một số đoạn xuất hiện khá nhiều vị trí tiềm ẩn nguy cơ sạt lở đất, đá, gây tắc đường.

Sau mỗi trận mưa lớn, tại khu vực này thường xuyên xảy ra hiện tượng sạt lở đất khiến cho cư dân xung quanh thấp thỏm, lo sợ. Theo những người dân sinh sống tại khu vực này thì hiện tượng xói lở đất sau các đợt mưa lớn đã xuất hiện từ đầu mùa mưa khiến bà con lo lắng. Sau mỗi trận mưa lớn, trên tuyến quốc lộ 12 đoạn từ km93 + 250 đến km98 + 800 xuất hiện nhiều vết rạn nứt và lượng đất đá không nhỏ rơi xuống mặt đuờng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ