Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CHỊU TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG CỦA CÁ NHÂN 1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 1. Khái niệm Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng không phải là khái niệm xa lạ trong Cổ Luật Việt Nam. Có thể nói rằng ý niệm này đã được hình thành từ thời vua Lê Thánh Tông với Bộ luật Hồng Đức và cùng với sự phát triển của hệ thống pháp luật dần dần được định hình với tư cách là một chế định trách nhiệm.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một chế định quan trọng trong BLDS nhằm điều chỉnh các quan hệ trong trường hợp có thiệt hại về tài sản, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người khác do hành vi trái pháp luật của con người gây ra hoặc trách nhiệm do súc vật, cây cối, nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra. Theo quy định BLDS 2005, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được hiểu: “Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường” [8; Đ604]. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một dạng trách nhiệm dân sự phát sinh từ sự kiện gây thiệt trái pháp luật, trong đó chủ thể gây thiệt hại phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi do hành vi trái pháp luật của mình gây ra. Trong bất kỳ một xã hội nào, việc xảy ra các hành vi gây ra thiệt hại cho các chủ thể khác, một hiện tượng phổ biến và giải pháp cụ thể để bảo vệ người bị thiệt hại là áp đặt trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho chủ thể đã có hành vi gây hại.
Vì lẽ đó trách nhiệm dân sự được đặt ra 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhằm giải quyết những tổn thất, sự suy giảm về lợi ích khi có thiệt hại xảy ra. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng bao gồm các yếu tố: - Có thiệt hại xảy ra; - Có hành vi gây thiệt hại trái pháp luật; - Người gây ra thiệt hại có lỗi; - Mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật. Như vậy, thiệt hại do hành vi trái pháp luật là căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Mọi hành vi xâm phạm đến người khác, tài sản hợp pháp của người khác đều có khả năng gánh chịu một hay một số loại trách nhiệm pháp lý mà chủ yếu là trách nhiệm bồi thường những tổn thất do hành vi trái pháp luật gây ra.
Có hành vi trái pháp luật là cơ sở xem xét trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt hại lúc này phát sinh quan hệ mà người gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại. Từ sự phân tích trên ta có thể rút ra khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng như sau: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là trách nhiệm dân sự phát sinh giữa các chủ thể mà trước đó không có quan hệ hợp đồng hoặc tuy có quan hệ hợp đồng nhưng hành vi của người gây ra thiệt hại không thuộc về nghĩa vụ thi hành theo hợp đồng đã giao kết. Từ khái niệm đó ta có thể hiểu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là trách nhiệm dân sự phát sinh giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt hại mà trước đó giữa họ không có quan hệ hợp đồng nào và thậm chí giữa họ có thể chưa bao giờ tồn tại một quan hệ cụ thể, chẳng hạn việc bồi thường phát sinh trong các tai nạn giao thông, trong các vụ ẩu đả…, hoặc tuy có quan hệ hợp đồng nhưng việc gây thiệt hại không liên quan đến nghĩa vụ thực hiện hợp đồng.
Ngoài ra còn tồn tại khả năng là các quyền, lợi ích bị xâm phạm vốn đã được pháp luật bảo vệ một cách mặc định, cho dù các bên 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com có tồn tại quan hệ hợp đồng hay không ví dụ như việc bồi thường thiệt hại của chủ xe chở hành khách khi tai nạn xảy ra được xác định là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Thiệt hại bao gồm thiệt hại về vật chất và trong nhiều trường hợp là cả các thiệt hại về tinh thần. Khi thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng có nhiều biện pháp như buộc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai nhưng biện pháp chủ yếu vẫn là bồi thường bằng tài sản. Đặc điểm Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm dân sự và chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự.
Khi nói đến trách nhiệm bồi thường là đề cập đến một tình thế buộc người phải thực hiện một hành vi hoặc có trách nhiệm phải gánh chịu những bất lợi về tài sản hoặc nhân thân của người mang trách nhiệm đó. Vì là một loại trách nhiệm dân sự cho nên bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng mang những đặc điểm của trách nhiệm dân sự nói chung như: Mang tính tài sản, được thực hiện dựa trên sự cưỡng chế nhà nước hoặc sự thỏa thuận giữa các bên chủ thể. Đó là loại trách nhiệm tài sản nhằm khôi phục thiệt hại của người bị thiệt hại do cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng. Chủ thể có trách nhiệm bồi thường thiệt hại này có thể là những công dân hay các pháp nhân.
Trong một số trường hợp, các cơ quan nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng cũng có thể trở thành bên có quyền hoặc bên có trách nhiệm. Người bị thiệt hại (người có quyền) và người gây ra thiệt hại (người có trách nhiệm) là các bên tham gia vào quan hệ bồi thường thiệt hại. Chủ thể có quyền cũng như chủ thể có trách nhiệm có thể là một hoặc nhiều người. Trách nhiệm bồi thường có thể là liên đới, riêng lẽ, hoặc theo phần tùy vào điều kiện hoàn cảnh và đối tượng bị xâm hại.
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngoài những đặc điểm chung của trách nhiệm dân sự, theo quy định của pháp luật trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng có những đặc điểm pháp lý riêng biệt: - Căn cứ phát sinh trách nhiệm đồng thời là căn cứ phát sinh nghĩa vụ. Như vậy, trong bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thời điểm phát sinh nghĩa vụ và trách nhiệm bồi thường xuất hiện cùng một lúc nên thiệt hại vừa là điều kiện phát sinh nghĩa vụ bồi thường, vừa là điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường. Nói cách khác nghĩa vụ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh ngay khi phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật mà không dựa trên cơ sở sự thỏa thuận của các bên như trong quan hệ hợp đồng. Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, hành vi trái pháp luật đóng vai trò là nguyên nhân làm phát sinh hậu quả là thiệt hại.
Một người chỉ phải chịu trách nhiệm bồi thường đối với những thiệt hại xảy ra là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật - là nguyên nhân trực tiếp hoặc là nguyên nhân có ý nghĩa quyết định đối với thiệt hại đã xảy ra. Điều này nhằm phân biệt với bồi thường thiệt hại trong hợp đồng. Trong bồi thường theo hợp đồng, xác định nghĩa vụ và thực hiện trách nhiệm phát sinh ở hai thời điểm khác nhau, có nghĩa là vào trước lúc phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng thì các chủ thể đã ký kết và thỏa thuận với nhau về nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do bên nào có vi phạm hợp đồng và việc phạt vi phạm chỉ xẩy ra khi một bên vi phạm hợp đồng, gây thiệt hại cho bên kia. Cho nên, đối với quan hệ hợp đồng thì thiệt hại xảy ra chỉ là điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
- Cơ sở của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hoàn toàn do luật định: cơ sở phát sinh, chủ thể chịu trách nhiệm, cách thức bồi thường, mức bồi thường… được pháp luật quy định sẵn mà không phụ thuộc vào thỏa thuận trước của các bên. Do đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đồng được quy định và áp dụng hoàn toàn nằm ngoài ý chí của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật dân sự. Vì giữa các chủ thể trong quan hệ bồi thường ngoài hợp đồng không có quan hệ hợp đồng, thậm chí chưa từng có một quan hệ cụ thể nào hoặc có những sự kiện gây thiệt hại không nằm trong nghĩa vụ thực hiện hợp đồng đã thỏa thuận. Trong một số trường hợp đặc biệt, thiệt hại xảy ra và hành vi gây thiệt hại có liên quan đến nội dung của hợp đồng đã được xác lập trước đó giữ các chủ thể nhưng trách nhiệm vẫn được coi là ngoài hợp đồng.
Đó là thiệt hại về tính mạng, sức khỏe con người trong hợp đồng vận chuyển hành khách [8; K1Đ533], hay bồi thường thiệt hại cho bên thuê nhà trong trường hợp bên thuê nhà không bảo dưỡng và sửa chữa nhà cho thuê dẫn đến việc gây thiệt hại [8; Đ493]. - Trong một số trường hợp chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngay cả khi không có lỗi: về cơ bản, lỗi là căn cứ để xác định có tồn tại hay không trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Tuy nhiên trong các trường hợp đã được luật xác định sẵn, chủ thể gây hại phải bồi thường thiệt hại ngay cả khi hoàn toàn không có lỗi [8; K2Đ604]. Cụ thể là các trường hợp bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra Điều 623 và bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường [8; Đ624].
Mặt khác, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh không những do hành vi trái pháp luật gây ra, mà còn là trách nhiệm phát sinh do súc vật, cây cối, nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra. Nhưng đối với bồi thường theo hợp đồng thì lỗi là điều kiện bắt buộc.