Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LUẬT SƯ VÀ CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA LUẬT SƯ 1. Nhận thức chung về luật sư trong hoạt động tố tụng hình sự và sự phát triển của pháp luật Việt Nam về luật sư 1. Khái niệm luật sư trong hoạt động tố tụng hình sự Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh rằng, khi xã hội được phân chia thành giai cấp thì xuất hiện đấu tranh giai cấp nhằm bảo vệ quyền cơ bản của con người. Cách đây hơn nửa thế kỷ, khi viết bản tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn thấy trong Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc Hoa kỳ (1776) và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng tư sản Pháp (1789) những giá trị bền vững: Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.
Xuất phát từ nguyên lý, ở đâu có sự buộc tội thì ở đó có sự gỡ tội; khi có bên bảo vệ quyền lợi cho bị can, bị cáo thì cũng phải có bên bảo vệ cho người bị hại nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Mặt khác, trong thực tế hoạt động tố tụng hình sự, bên buộc tội (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án và những người tiến hành tố tụng) là chuyên gia buộc tội dày dạn kinh nghiệm thực tiễn với khả năng hùng biện, am hiểu tường tận pháp luật, là người đại diện cho quyền lực của nhà nước có đủ khả năng pháp lý. Ngược lại, bị can, bị cáo, và những người tham gia tố tụng có quyền lợi pháp lý khác luôn ở địa vị bất lợi, là người có trình độ văn hoá thấp, vị trí xã hội thấp kém, không hiểu hoặc hiểu biết pháp luật hạn chế, kinh nghiệm tham gia tố tụng chưa có, tâm trạng bất ổn định, lo lắng, bị 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sức ép về mặt tâm lý, không quen nói trước đám đông v.v… Chính vì thế, cần thiết phải có một tổ chức, mà pháp luật quy định là Tổ chức Luật sư bảo vệ quyền lợi của bị can, bị cáo; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự. Bằng hoạt động của mình, tổ chức luật sư góp phần tích cực bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và các tổ chức; góp phần vào việc giải quyết các vụ án được khách quan, đúng pháp luật; góp phần thực hiện quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật, thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa; giáo dục công dân tuân theo Hiến pháp, pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa.
Như vậy, luật sư và hoạt động của luật sư trong hoạt động tố tụng tư pháp nói chung và tố tụng hình sự nói riêng là rất cần thiết. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiê ̣n nay , chưa có mô ̣t khái niê ̣m hoàn chỉnh về luâ ̣t sư trong các tác phẩ m khoa ho ̣c pháp lý và các văn bản pháp luâ ̣t hiê ̣n hành. Pháp luật thực định nước ta hiê ̣n đang tồ n ta ̣i nhiề u tên go ̣i khác nhau cho những người hoa ̣t đô ̣ng trong liñ h vực dich ̣ vu ̣ pháp lý và bào chữa trước Tòa án. Đó là "luâ ̣t g ia", "luâ ̣t sư ", "người bào ch ữa", "bào chữa viên nhân dân ", "người bảo vệ quyền lơ ̣i của đương sự.
Ngay trong Từ điể n tiế ng Viê ̣t , cách giải nghĩa các từ "luâ ̣t gia " và "luâ ̣t sư " cũng rất khác nhau. Các tác giả của Trung tâm ngôn ngữ và văn ho ̣c Viê ̣t Nam thuô ̣c Bô ̣ g iáo dục và đào tạo giả i nghĩa từ "luâ ̣t sư" là người có chức trách dùng pháp luật bào ch ữa cho bị can trước Tòa án , còn "luâ ̣t gia " là người chuyên nghiên cứu pháp luật. Trong khi đó mô ̣t nhóm tác giả khác la ̣i giải nghiã từ "luâ ̣t sư" là trạng sư, người bênh vực cho mô ̣t can pha ̣m trước Tòa án , còn từ "luâ ̣t gia " dùng để chỉ người nghiên cứu giỏi luâ ̣t pháp. Theo Điề u lê ̣ của Hô ̣i Luâ ̣t gia Viê ̣t Nam , "luâ ̣t gia " đươ ̣c hiể u là những người "đã hoă ̣c đang làm công tác pháp luâ ̣t trong các cơ quan nhà nước, các đoàn thể nhân dân , các tổ chức kinh tế xã hội , trong lực lươ ̣ng vũ trang 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhân dân tán thành điề u lê ̣ Hô ̣i , tự nguyê ̣n và tić h cực tham gia hoa ̣t đô ̣ng cho hô ̣i" [9, tr.
Họ có một tiêu chuẩn chung là đã hoă ̣c đang hoa ̣t đô ̣ng có liên quan đế n pháp luâ ̣t nhưng không nhấ t thiế t phải là người đã có bằ ng cử nhân luâ ̣t hoă ̣c chuyên nghiên cứu về pháp luâ ̣t. Theo Từ điển Luật học nhà xuất bản Bách khoa Hà Nội năm 1999, khái niệm Luật sư được hiểu theo hai nghĩa là: 1) Thành viên của một đoàn luật sư, làm nghề giúp đỡ về mặt pháp lý cho cá nhân hoặc theo tổ chức theo hợp đồng hoặc theo chỉ định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong một số trường hợp. Luật sư tham gia tố tụng để bào chữa cho bị can, để bênh vực cho bị cáo, các đương sự, thay mặt cho người bị hại trước các tòa án, và có thể làm một số dịch vụ pháp lý khác theo quy định của pháp luật. Công dân Việt Nam có phẩm chất đạo đức và đủ các điều kiện về kiến thức pháp l ý theo quy định của pháp luật, được đoàn luật sư kết nạp có thể trở thành luật sư sau thời gian tập sự; 2) Danh hiệu chỉ người đã làm nghề luật sư nhưng đã nghỉ việc.
Với những cách hiểu và giải thích như trên chưa phản ánh chính xác luật sư và hoạt động của luật sư trong hoạt động tố tụng tư pháp nói chung và trong tố tụng hình sự nói riêng. Hiế n pháp Viê ̣t Nam năm 1980 đã b ắt đầu dùng từ "luâ ̣t sư " để ch ỉ những người hoa ̣t đô ̣ng tư vấ n pháp luâ ̣t và bào chữa trước Tòa án , nhưng hoạt động bào chữa trước Tòa án không chỉ có các luật sư. Trong Bộ luật Tố tụng hình sự khái niệm "người bào chữa " đươ ̣c sử du ̣ng để chỉ luâ ̣t sư , người đa ̣i diê ̣n hơ ̣p phá p của người bi ̣ta ̣m giữ , bị can, bị cáo và bào chữa viên nhân dân. Theo giải thić h của các tác giả trong cuố n "Bình luận khoa học B ộ luật tố tụng hình sự", luâ ̣t sư là người hoa ̣t đô ̣ng bào chữa chuyên nghiê ̣p hoa ̣t đô ̣ng trong đoàn luâ ̣t sư ; người đa ̣i diê ̣n hơ ̣p pháp của bi ̣can , bị cáo là cha , mẹ, anh chị em ruô ̣t ; còn bào chữa viên nhân dân là người được tổ chức đoàn thể xã hô ̣i cử ra để bào chữa cho bi ̣ cáo.
12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Không chỉ tồ n ta ̣i sự thiế u thố ng nhấ t trong pháp luâ ̣t thực đinh ̣ , trong khoa ho ̣c pháp lý cũng có nhiề u qu an điểm khác nhau về khái niê ̣m "người bào chữa trong t ố tụng hình sự". Mô ̣t số tác giả quan niê ̣m người bào chữa là người giúp đỡ tòa án trong viê ̣c xác đinh ̣ tấ t cả các tình tiế t cầ n thiế t về vu ̣ án. Một số tác giả khác th ì quan niệm người bào chữa là "người tham gia tố tu ̣ng không có quyề n và lơ ̣i ích liên quan đế n vu ̣ án mà chỉ nhằ m bảo vê ̣ các quyề n và lợi ích hợp pháp của người b ị buô ̣c tô ̣i ". Theo quan niê ̣m sau tính chấ t "tham gia tố tu ̣n g" của người bào chữa chỉ là "người góp phầ n hoa ̣t đô ̣ng của mình vào một hoạt động chung nào đó do những chủ thể khác chủ động và chính thức tiế n hành ".
Khắc phục nhận thức chưa nhất quán này, Tại khoản 1 Điề u 1, Pháp lệ nh Luâ ̣t sư năm 2001 quy đinh ̣ : "Luâ ̣t sư là người có đủ điề u kiê ̣n hành nghề theo quy đinh ̣ của pháp lê ̣nh này và tham gia hoa ̣t đô ̣ng tố tụng, thực hiê ̣n tư vấ n pháp luâ ̣t , các dịch vụ pháp lý khác theo yêu cầu của các cá nhân , tổ chức nhằ m bảo vê ̣ quyề n lơ ̣i ić h hơ ̣p pháp của h ọ theo quy đinh ̣ pháp luâ ̣t " và Điề u 2 Luâ ̣t luâ ̣t sư 2006 cũng quy định: "Luâ ̣t sư là người có đủ tiêu chuẩn , điề u kiê ̣n hành nghề theo quy đinh ̣ của luâ ̣t này , thực hiê ̣n dịch vụ ph áp lý theo yêu cầu của cá nhân , cơ quan, tổ chức". Dịch vụ pháp lý của luật sư gồm: tham gia tố tu ̣ng , tư vấ n pháp luâ ̣t , đa ̣i diê ̣n ngoài tố tu ̣ng cho khách hàng và các dịch vụ pháp lý khác (Điề u 4 Luâ ̣t luâ ̣t sư 2006). Đinh ̣ nghĩa này tuy phản ánh đầy đủ phạm vi hành nghề chủ yếu của luâ ̣t sư nhưng chưa làm rõ đươ ̣c về mă ̣t lý luâ ̣n điạ vi ̣pháp lý của luâ ̣t sư trong hê ̣ thố ng cơ quan tư pháp. Điề u này thể hiê ̣n ở chỗ , xét về mặt chủ thể trong hoạt động do quan niệm luật sư chỉ là người tham gia tố tụng và phạm vi hoạt đô ̣ng của luâ ̣t sư thuô ̣c liñ h vực "bổ trơ ̣ tư pháp " nên thực chấ t luâ ̣t sư chỉ đươ ̣c coi là người trơ ̣ giúp pháp lý mang tiń h bi ̣đô ̣ng , không có cơ sở pháp luâ ̣t cho viê ̣c hành nghề mô ̣t cách biǹ h đẳ ng và đô ̣c lâ ̣p.
13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.