phần mở đầu, nội dung, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục. Luận văn có kết cấu gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về chất lƣợng và nâng cao chất lƣợng công chức. Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng và nâng cao chất lƣợng công chức tại Tổng cục Quản lý thị trƣờng. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng công chức tại Tổng cục Quản lý thị trƣờng.
9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG VÀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG CÔNG CHỨC 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Công chức Luật Cán bộ, công chức đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII thông qua ngày 13/11/2008, có hiệu lực từ ngày 01/01/2010. Luật Cán bộ, công chức quy định khái nhiệm về công chức nhƣ sau: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được đảm bảo từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”.
Ngày 25/11/2019, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức đƣợc thông qua và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2020. Luật này đã sửa đổi, bổ sung quy định khái nhiệm về công chức nhƣ sau: 10 “ Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Từ khái niệm chung về công chức nêu trên, có thể định nghĩa về công chức QLTT nhƣ sau: Công chức QLTT là công dân Việt Nam, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong các đơn vị thuộc lực lƣợng quản lý thị trƣờng, hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc theo quy định của pháp luật. Chất lượng công chức Mỗi công chức trƣớc hết phải là những con ngƣời có đủ sức khỏe, đủ năng lực hành vi và năng lực pháp lý nhƣ một công dân bình thƣờng.
Tuy nhiên, với tƣ cách công chức nhà nƣớc, họ phải có những phẩm chất xứng đáng đứng trong hàng ngũ công chức và đảm bảo hoàn thành tốt các nhiệm vụ đƣợc Đảng, Nhà nƣớc và nhân dân giao phó. Đó phải là những con ngƣời có đủ phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị, đủ năng lực chuyên môn, năng lực tổ chức, lãnh đạo để hoàn thành nhiệm vụ đƣợc giao. Nhƣ vậy, có thể định nghĩa “Chất lượng cán bộ, công chức là tổng hòa của các yếu tố: Thể lực (sức khỏe, độ tuổi); trí lực (kiến thức, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ); tâm lực (phẩm chất chính trị, thái độ, kỷ luật…) của cán bộ, công chức, thể hiện qua quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ nhằm đạt được mục tiêu phát 11 triển bản thân cũng như mục tiêu hoạt động chung của cơ quan hành chính nhà nước.” Có thể nói chất lƣợng công chức có vị trí vô cùng quan trọng đối với sự tồn vong và phát triển của mỗi quốc gia. Vấn đề đặt ra đối với mỗi quốc gia là, nếu công chức có số lƣợng, chất lƣợng và cơ cấu hợp lý, đáp ứng đƣợc yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của từng thời kỳ, thì chẳng những đƣờng lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc đƣợc xây dựng đúng, phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nƣớc, mà việc tổ chức thực hiện đƣờng lối, chính sách của nhà nƣớc có khả năng hiện thực.Mác đã khẳng định: “Muốn thực hiện tƣ tƣởng thì cần có những con ngƣời sử dụng lực lƣợng thực tiễn” là nhƣ vậy.
Chất lƣợng công chức QLTT là chất lƣợng của tập hợp công chức trong toàn lực lƣợng. Nó đƣợc thể hiện qua tiêu chí về sức khỏe, trí tuệ, trình độ, sự hiểu biết, đạo đức nghề nghiệp và tinh thần phục vụ nhân dân của công chức QLTT trong quá trình hoàn thành công vụ. Chất lƣợng của công chức QLTT thể hiện mối quan hệ phối hợp, hợp tác giữa các yếu tố, các thành viên cấu thành nên bản chất bên trong của công chức QLTT. Chất lƣợng công chức QLTT phụ thuộc vào chất lƣợng của từng công chức đó, đƣợc thể hiện ở trình độ chuyên môn, sự hiểu biết về chính trị, xã hội, phẩm chất đạo đức, khả năng thích nghi với sự chuyển đổi của nền kinh tế.
Nâng cao chất lượng công chức Từ khái niệm về chất lƣợng cán bộ, công chức ở trên, có thể khái quát khái niệm về nâng cao chất lƣợng cán bộ, công chức nhƣ sau: “Nâng cao chất lượng cán bộ, công chức là việc thực hiện các hoạt động nhằm gia tăng thể lực (sức khỏe, độ tuổi); trí lực (kiến thức, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ) và tâm lực (phẩm chất chính trị, thái độ, kỷ luật…) của cán bộ, công chức trong 12 quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ nhằm đạt được mục tiêu phát triển bản thân cũng như mục tiêu hoạt động chung của cơ quan hành chính nhà nước”. Nâng cao chất lƣợng công chức QLTT là tổng thể các hình thức, phƣơng pháp, chính sách nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lƣợng từng công chức nhƣ: đào tạo, bồi dƣỡng, chăm sóc sức khoẻ về thể lực, tinh thần và khai thác tối đa tiềm năng đó trong các hoạt động lao động. Thông qua việc tuyển dụng, sử dụng, tạo điều kiện về môi trƣờng làm việc, môi trƣờng văn hoá, xã hội, hành lang pháp lý nhằm kích thích động cơ, thái độ làm việc của công chức QLTT, để họ mang hết sức mình hoàn thành công vụ đƣợc giao. Các tiêu chí chất lƣợng công chức 1.
Nhóm tiêu ch về thể lực 1. Về sức khoẻ Theo Tổ chức Y tế thế giới “Sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không chỉ là không có bệnh hay thƣơng tật”. Cán bộ, công chức có sức khỏe tốt có thể mang lại kết quả thành công cao trong công việc nhờ sự bền bỉ, dẻo dai và khả năng tập trung trong khi làm việc. Nhờ thể lực tốt, cán bộ, công chức có thể tiếp thu nhanh chóng những kiến thức, kỹ năng trong quá trình thực thi công vụ.
Có nhiều tiêu chí biểu hiện trạng thái sức khỏe của cán bộ. Theo Quyết định số 1266/QĐ-BYT ngày 21/3/2020 của Bộ Y tế về việc ban hành tiêu chuẩn phân loại sức khỏe cán bộ và mẫu phiếu khám sức khỏe cán bộ; quy định 5 trạng thái sức khỏe là: 1. Loại A: Khỏe mạnh, không có bệnh, hoặc có mắc một số bệnh thông thƣờng nhƣng không ảnh hƣởng đến lao động, sinh hoạt và sức khỏe cá nhân, tuổi đời không quá 60. Loại B1: Đủ sức khỏe công tác, mắc một hay một số bệnh mãn tính cần phải theo dõi, điều trị nhƣng không hoặc ít ảnh hƣởng đến lao động, sinh hoạt và sức khỏe cá nhân, tuổi đời không quá 70.
Loại B2: Đủ sức khỏe công tác, mắc một số bệnh mãn tính cần phải theo dõi, điều trị thƣờng xuyên nhƣng đang trong thời kỳ ổn định, ít ảnh hƣởng đến lao động, sinh hoạt, sức khỏe cá nhân, tuổi đời không quá 80. Loại C: Không đủ sức khỏe công tác tại thời điểm khám sức khỏe, mắc một số bệnh mãn tính nặng, bệnh đã có các biến chứng, phải nghỉ việc để điều trị bệnh từ 01 đến 03 tháng. Loại D: Không đủ sức khỏe để tiếp tục công tác, bệnh nặng ở giai đoạn cuối, biến chứng nặng, khó hồi phục, sức khỏe sút kém, phải nghỉ hẳn để chữa bệnh và phục hồi chức năng. Về độ tuổi Quy định tuổi ngƣời cán bộ là để tạo mặt bằng chung, bảo đảm khả năng làm việc tốt, bảo đảm sự kế thừa và đổi mới cán bộ.
Tuổi đời không phải là một yếu tố quyết định phẩm chất, năng lực, trình độ, hiệu quả công việc nhƣng lại là một tiêu chí xã hội quan trọng, xác định vị trí, vai trò và uy tín xã hội của mỗi ngƣời cán bộ công chức. Ngƣời cán bộ công chức cần có tuổi đời thích hợp với chức trách, vai trò, nhiệm vụ hiện tại đang đảm nhận, có độ “dƣ thừa” cần thiết để bảo đảm khả năng phát huy lâu dài, ít nhất là một nhiệm kỳ công tác. Nhóm tiêu ch về tr lực 1. Trình độ học vấn Đây là tiêu chí rất quan trọng phản ánh chất lƣợng cán bộ, công chức.
Trình độ học vấn là điều kiện và khả năng tiếp thu, vận dụng có hiệu quả những tiến bộ mới của khoa học công nghệ trong thực hiện nhiệm vụ. Sự phát triển nhƣ vũ bão của khoa học, công nghệ yêu cầu cán bộ, công chức phải có 14 trình độ học vấn cơ bản để có khả năng tiếp thu và áp dụng kiến thức mới trong thực thi công vụ; góp phần giúp cán bộ, công chức nâng cao khả năng làm việc chủ động, linh hoạt và sáng tạo. Trình độ chuyên môn Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ đƣợc giao, đòi hỏi ngƣời cán bộ, công chức phải có trình độ. Muốn có trình độ tất yếu ngƣời cán bộ, công chức phải đƣợc đào tạo, bồi dƣỡng qua trƣờng lớp và tự đào tạo, rèn luyện qua thực tế công tác.
Hiện nay, ở Việt Nam trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ, công chức đƣợc đào tạo ứng với hệ thống văn bằng chia thành các trình độ nhƣ: Trung cấp, Cao đẳng, Đại học và trên đại học. Tuy nhiên, khi xem xét về trình độ chuyên môn của cán bộ, công chức cần lƣu ý về sự phù hợp giữa chuyên môn đào tạo với yêu cầu thực tế của công việc và kết quả làm việc của họ.